NHỮNG ĐIỂM DU LỊCH Ở THÀNH PHỐ BIỂN VŨNG TÀU


DI TÍCH LỊCH SỬ VÀ KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT BẠCH DINH

( Số 12 đường Trần Phú, Bãi Trước, Vũng Tàu)

 

Bạch Dinh một phác thảo của kiến trúc “Rô-măng cận đại”, một bức tranh hoành tráng tạo lạc bên bờ biển, một di tích lịch sử và danh thắng của Vũng Tàu.

Bạch Dinh nằm phía nam Núi Lớn, trên pháo đài Phước Thắng cổ xưa của triều Nguyễn, cao 27,7m so với mực nước biển, cách bờ chỉ hơn 50m. Từ thế đứng trên tiền sảnh nhìn xuống, ta cảm giác như ở tầng lầu của một cao ốc xây dựng trên mặt nước biển, có thể dõi tầm mắt ra bao quát cả trung tâm thành phố Vũng Tàu. Và biển vào những ngày nắng đẹp, nhìn đến mút mắt cũng không phân biệt được ranh giới trời và nước. Trời nước hòa vao một màu xanh ngát.

Đường Trần Phú, ranh giới của Núi Lớn và bờ biển phía Tây, nối liền Bãi Trước và Bãi Dâu. Đến mũi Hòn Ngưu có hai lối lên Bạch Dinh. Một đường chạy uốn quanh dưới rừng tếch cao niên, dành cho xe hơi lên đến tiền sảnh. Một đường tam cấp cổ xưa, xây dựng cùng thời với ngôi nhà, 146 bậc, kín đáo dưới vườn Sứ ngũ sắc thơm ngát- Vườn sứ Bạch Dinh vào loại lớn nhất và cao niên nhất trong làng bông sứ Vũng Tàu.

Bạch Dinh cao 19m, có ba tầng. Tầng hầm dùng cho việc nấu nướng và hệ thống khí chứa. Tầng trệt dùng làm khánh tiết. Tại đây còn bày trí những hiện vật cổ xưa thuộc trang trí nội thất ngôi nhà, như song binh “ Bách Điểu chầu Phụng”(sứ men trắng vẽ lam, thể hiện 100 con chim các loại với nhiều tư thế), bình cao 135cm, được làm vào cuối thời nhà Thanh, Trung Quốc. Bộ tràng kỷ Hoàng Gia ghi niên đại ‘ Khải Định Tân Dậu”(1921), cặp ngà voi châu Phi dài 170cm, nặng 43kg. Bộ “Tam Đa” nghũ thái “Phước -Lộc-Thọ” thanh thoát, sắc sảo đặt trên án thư…Tầng lầu khoáng đạt dành cho việc nghỉ ngơi.

Dạo quanh Bạch Dinh, du khách không khỏi ngạc nhiên về tám bức tượng đá bán thân gắn trên một đường thẳng bao quanh ba mặt tường chính của ngôi nhà. Có lẽ đây là các bức tượng chân dung về những danh nhân trong lịch sử. Hầu hết các bức tượng dều mang phong cách của nghệ thuật Hy Lạp cổ đại. Buổi sáng, lúc mặt trời lên, hoặc khi buổi chiều mặt trời xế bóng, những đường viền trag trí ốp phản quang sắc vàng sáng lên lấp lánh sau những bức tượng là ký họa chân dung đối xứng trên nền chim công và sóng nước tráng lệ thật hấp dẫn và kỳ diệu.

 

Trong một bài báo của người Pháp năm 1902 đã viết về Bạch Dinh ở Vũng Tàu như sau: ‘ Ở chân ngọn núi phía Bắc, biệt thự của Toàn Quyền Đông Dương được xây dựng trên độ cao hơn 20m mà xưa kia là một lực lượng An Nam bảo vệ, tọa lạc giữa ghềnh biển và nổi bậc trắng toát lên nền tối sẫm của khu rừng. Trên sườn núi toàn là cây cối bao quanh, người ta chia cắt thành những lối đi từ khu vườn mà nhánh đường cuối cùng mất hút vào trong núi, trong khi mặt bằng ban đầu đã biến thành những thảm cỏ xanh. Một dãy cầu thang mỹ thuật, từ trên vườn vịn xuống nối liền dinh thự với ngôi nhà có dáng dấp nhí nhảnh là nơi dặt phòng làm việc của Toàn Quyền”. ( Ngôi nhà có “dáng dấp nhí nhảnh” được nói tới ấy có lẽ là văn phòng Bảo Tàng Bà Rịa_Vũng Tàu hiện nay).

 

Cho đến nay, người Vũng Tàu vẫn còn lưu giữu trong ký ức các tên gọi của Bạch Dinh là Dinh Ông Thượng, Biệt Thự Trắng, hoặc theo gốc Tây là Villa Blanche ( ghi trên đá cẩm thạch gắn ở cổng). Ngoài ra nó còn có tên Villa du Gouverneur (Dinh Toàn Quyền). Theo nhiều nguồn tài liệu, Bạch Dinh được khởi công xây dựng vào năm 1898 (cùng thời với những kiến trúc tầm cở như Nhà Hát Lớn Hà Nội, Nhà Thờ Đức Bà và Nhà Hát Lớn Sài Gòn). Như đoạn trích trên đã nói, Bạch Dinh được xây dựng dùng làm nơi nghỉ ngơi cho Toàn Quyền Đông Dương Paul Dounmer. Tên của biệt thự Blanche- « trắng. Để chuẩn bị cho một Bạch Dinh – Vũng Tàu trở thành ”đất cấm ”, trước đó Paul Dounmer đã nhấn mạnh : ” Sự cần thiết nắm giữ Sài Gòn an toàn trong tầm tay buộc phải nâng cao việc phòng thủ sơ yếu tại Vũng Tàu như một đồn canh hùng vĩ chắn trên cửa sông Sài Gòn, chỉ huy từ xa sông biển và đồng bằng Nam Bộ… Bốn khẩu pháo lớn đã được thành  lập… Chính vì tổ chức sơ lược này mà Toàn Quyền truyền lệnh bổ sung theo kế hoạch phải làm cho Vũng Tàu trở thành một phòng lũy vững mạnh nhất. Tất cả những chương trình thực hiện ở Vũng Tàu đều vào năm 1897 ”. Rỏ ràng, ngoài cái chung, Paul Dounmer đã lo riêng cho Bạch Dinh trước một bước.

 

Bạch Dinh không những thỏa mãn cho Paul Dounmer mà các đời của Toàn Quyền Đông Dương sau đó vẫn thích dùng Bạch Dinh làm nơi nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Dưới thời Mỹ_Ngụy, Bạch Dinh cũng là nơi an nghỉ và hội họp của Tổng Thống và các tướng lĩnh Sài Gòn…. Bạch Dinh còn là nơi an trí của Thaí Thượng Hoàng Thành Thái, một nhà vua có tư tưởng yêu nước, chống lại ách đô hộ, bị thực dân Pháp phế truất vào tháng 9-1907. Sau khi đưa Nguyễn Vĩnh San, con trai thứ 5 của Vua Thành Thái lên ngôi (hiệu Duy Tân), thực dân Pháp đã đưa ông vào giam lõng ở Bạch Dinh một thời gian_ cũng là một kiểu mị dân của thực dân Pháp. Có lẽ vì vậy mà Bạch Dinh được nhân dân gọi là Dinh Ông Thượng dù Thái Thượng Hoàng an trí ở đây không lâu.

Bạch Dinh – một thắng tích gắn liền với mảnh đất du lịch Vũng Tàu từ cuối thế kỷ XIX đến nay, đã chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử quê hương. Với nét đẹp kiều diễm trước biển, nét đẹp của bàn tay khéo léo được làm ra từ mồ hôi, nước mắt của tù lao động khổ sai, Bạch Dinh xứng đáng với sự ngưỡng mộ và thừa nhận của du khách thắng tích nổi tiếng của đất du lịch Vũng Tàu..

 

Từ năm 1991, nhằm nâng cao hiệu quả, phát huy tác dụng di tích Bạch Dinh và giới thiệu đông đảo du khách đến Vũng Tàu. Bảo Tàng tỉnh đã trưng bày các chuyên đề cổ vật Hòn Cau ở tầng trệt, cổ vật Bà Rịa – Vũng Tàu ở tầng lầu và sưu tập súng cổ tại sân vườn ngoài trời. Đây là những sưu tập cổ rất quý giá, có giá trị nhiều mặt, được đông đảo du khách trong và ngoài nước quan tâm.

Hiện nay, mỗi năm Bạch Dinh đón hàng trăm ngàn lượt khách tham quan du lịch, gàn 1/5 trong số đó là khách nước ngoài. Đến Bạch Dinh, du khách được thực sự thoải mái vì vẻ đẹp kiều diểm hòa lẫn trong thiên nhiên cây cỏ trong lành, tươi mát và được tận mắt thưởng ngoại những cổ vật tiêu biểu, quý hiếm.

 

DI TÍCH DANH THẮNG THÍCH CA PHẬT ĐÀI

( Đường Trần Phú – Phường 5 – Vũng Tàu).

 

Danh thắng Thích Ca Phật Đài nằm trên đường Trầ Phú, con đường vòng quanh ôm Núi Lớn, khu Bến Đá và Bến Đình. Danh thắng Thích Ca Phật Đài gắn liền với vẻ đẹp của Bến Đá và cảnh quan thiên nhiên hướng Đông Bắc Núi Lớn. Nếu Bến Đá là bến cá sầm uất, nhộn nhịp thì Thích Ca Phật Đài, trái lại là nơi tịch liêu, đượm vẻ huyền diệu của chốn thiên thai.

Thích Ca Phật Đài là thắng tích nổi tiếng nhất trong những thắng tích nổi tiếng của đất thắng cảnh Vũng Tàu. Hàng năm, Thích Ca Phật Đài đón chào hàng vạn người từ khắp nơi hành hương vãn cảnh, thả mình trong không gian bồng lai tiên cảnh nơi trần thế.

 

Vùng núi Thích Ca Phật Đài trước đây cây cối tươi tốt, không có người sinh sống. Khoảng năm 1975, ông Lê Quang Vinh, một công chức thời Pháp thuộc, bất đắc chí lên đây dựng chùa để tu hành, gọi là Thiền Lâm Tự. Năm 1962, Giáo Hội Phật Giáo nhận thấy Thiền Lâm Tự ở một vị trí có khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, là vùng đất địa tụ kết khí thiêng, lại thuận tiện giao thông đi lại cho chư tăng, phật tử thập phương hành hương nên đã lập đồ án xây dựng quy mô Thiền Lâm Tự thành Thích Ca Phật Đài. Sau hơn 19 tháng xây dựng, ngày 15 tháng 2 năm Quý Mão (1963), Thích Ca Phật Đài được khánh thành với những công trình kiến trúc như hiện nay.

 

Thích Ca Phật Đài là một quần thể kiến trúc điêu khắc tạo dựng theo cuộc đời Phật Thích Ca Mâu Ni gắn với cảnh quan thiên nhiên hài hòa, sống động thành khu danh thắng đẹp, mang nhiều giá trị về văn hóa, lịch sử, tôn giáo, là một trong những danh thắng thu hút nhiều du khách nhất của Vũng Tàu.

Vào Thích Ca Phật Đài, du khách đi qua Tam Quan, trên có bánh xe luân chuyển đạo lý nhà Phật gọi là Pháp Luân với tám cảm biểu tượng Trung đạo. Vòng ngoài có bốn núm biểu tượng cho Tứ Diệu Đế. Trên bốn cột của Tam quan là bốn búp sen thể hiện cho sự trong sạch, tinh khiết, thanh cao của nhà Phật. Toàn bộ khuôn viên của Thích Ca Phật Đài được thể hiện trên triền núi như nửa vầng trăng, được chia làm ba cấp theo một hình tháp cao dần từ dưới lên, từ 3m đến 29m so với mực nước biển.

Bảo Tháp mà du khách bắt gặp đầu tiên, khi bước lên hết cấp thứ nhất là nơi ghi nhớ và tưởng niệm người đã có công dựng Thiền Lâm Tự: Nhà sư Giác Pháp tức quan phủ Lê Quang Vinh. Leo lên bậc thứ hai theo đường vòng cong nhỏ nhắn. Bên trái là vách đá kỳ vĩ. Bên phải dõi tầm mắt đến tận núi Nứa- Long Sơn và xa xa là cảng dầu khí với những cần cẩu vươn cao nổi lên ở phố xá, nhà cửa và làng ca Bến Đình, Bến Đá ngay dưới chân núi. Thích Ca Phật Đài được bao phủ bởi màu xanh của nhiều loại cây cao vút, gió biển thổi rì rào.

Đi hết đường vòng cung, du khách tới độ cao 25m, không gian trải rộng ra trước mặt. Đây là khu vực của những công trình điêu khắc được xây dựng dực theo những sự tích cuộc đời Đức Phật Thích Ca, từ khi Ngài ra đời đến khi nhập cõi Niết Bàn.

Truyện kể lại rằng, Đức Phật là con trai của quốc vương Kapilavastu, thuộc sứ Lumbini, dưới chân núi Hymalaya, phía bắc đất nước Ấn Độ rộng lớn và tươi đẹp. Quốc vương đặt tên cho thái tử là Siddharta. Sau khi chào đời, Thái tử vùng dậy bước đi bảy bước, mỗi bước có một bông Sen hiện ra đỡ lấy bàn chân. Đến bước thứ bảy, Thái tử chỉ một tay lên trời, một tay xuống đất nói rằng : ” Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn ”, tức là ” trên thì trời, dưới thì đất, duy có ta là quý hơn cả”. Để thể hiện Đức Phật đãn sinh, ở Thích Ca Phật Đài, người ta đã dựng bức tượng diễn tả một hài nhi đứng trên bông Sen, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất, gọi là tượng Bồ Tát dân sinh ( The Statue of Buddaha’ sholy Birth). Tượng cao 1,2m đứng trên một bệ cao 1m.

Thái tử lớn lên trong cuộc sống vương giả và hấp thụ nền giáo dục nhân tính vững chải, lão thông binh pháp, võ nghệ cao cường và chí khí hơn người. Nhưng Ngài không yên hưởng phú quý, vui thú một minh. Ngài xin phụ vương cho đi dạo ngoài Hoàng thành. Bốn lần ra khỏi Hoàng thành ở bốn cửa khác nhau, Ngài gặp bốn cảnh tượng: Lần đầu, Ngài thấy một hài nhi chào đời. Lần thứ hai Ngài thấy một cụ già đi ăn xin. Lần thứ ba Ngài thấy một người bệnh, và lần thứ tư Ngài thấy một đám ma. Bốn cảnh đó ghép lại thành một bức tranh về cuộc đời con người :Sinh ra, trưởng thành, bệnh tật và kết thúc bằng cái chết. Bên ngoài Hoàng thành là cuộc sống trầm luân, vất vả của chúng sinh. Ngài quyết chí ra đi tìm cách giải thoát chúng sinh khỏi vòng khổ ải. Từ giả vợ và con thơ, Ngài lên ngựa Kanthale ra khỏi Hoàng cung đi đến bên bờ sông Nilien. Ở đây, Ngài đã dùng kiếm cắt tóc của mình để biểu thị quyết tâm sắt đá. Trao ngựa và trang phục quý giá cho người hầu, chỉ giử lại một tấm y vàng vất trên người, Thái tử bắt đầu cuộc sống tu hành. Để thể hiện lại sự kiện trên, người ta đã dựng lên Tích Ca Phật Đài nhóm tượng : Thái tử cắt tóc xuất gia ( tượng cao 3,3m), người hầu Chana (cao 1,6m) bạch mã (ngựa Kanthale) cao 2,3m.

 

Tháo tử Siddharta xuất gia tu hành nhằm tìm phương cách cứu nhân loại khỏi bể khổ trầm luân. Người tham thiền dưới gốc Bồ Đề, nghiền ngẫm các chân lý và cuối cùng Ngài được thấu lý đắc đạo năm 35 tuổi. Để tưởng nhớ quá tình tu luyện khổ hạnh của Đức Phật, tín đồ Phật giáo đã tôn thờ cây Bồ Đề, nơi Đức Phật tham thiền, tu luyện và tìm ra nguyên lý của đạo Phật. Cây Bồ Đề trong khuôn viên của Thích Ca Phật Đài được Đại Đức Marada Maha The’ra chiết một nhánh từ cây Bồ Đề ở Srilanca có xuất xứ như nhau : Vào thế kỷ III trước Công Nguyên, Một công chúa của Hoàng Đế A Dục chiết một nhánh từ cây mà vốn trước đây Đức Phật ngồi tu luyện đem về trồng tại một ngôi chùa ở Srilanca. Như vậy, sau hai lần chiết từ cây gốc, ngày nay Thích Ca Phật Đài của chúng ta đã có một cây Bồ Đề liên quan đến cuộc đời thời trẻ của Đức Phật.

 

Hình ảnh của Thái tử khi tu luyện và đắc đạo được diễn tả qua bức tượng Phật Thích Ca hay Kim Thân Phật Tổ ngồi tham thiền trên tòa sen. Đức Phật ngự trên đài hành lễ cao 4,5m. Đài được đúc bằng ciment hình bát giác. Phái trên là bông sen cao 2m. Phật Thích Ca ngự trên tòa sen cao 5,1m ( như vậy bức tượng có chiều cao 11,6m nếu tính cả đài). Tượng Kim Thân được thi công tại chổ, riêng phần đầu được đặt đúc tại Sài Gòn. Ngày 20-7-1962 khi đem gắn đầu vào tượng, tương truyền lúc ấy nền trời xanh ửng lên một hào quang quanh mặt Phật. Được biết trong pho tượng Kim Thân có tôn trí ba viên ngọc Xá Lợi của Đức Phật.

 

Sau khi đã tìm được chân lý và trở thành Phật Thích Ca, Ngài đã truyền bá đạo Phật cho nhân loại. Ngài đến vườn Lộc Giả ( Isipatanr) và giảng đạo Phật cho các vị đạo sỹ và đệ tử. Để ghi nhận quá trình này người ta xây dựng ở Thích Ca Phật Đài nhà Bát Giác, tượng trưng cho Đức Phật chuyển Pháp Luân. Nhà Bát Giác có các bức tượng ; Phật Thích Ca ngồi trên tòa sen cao 1,2m; năm tượng đạo sỹ ngồi vây quanh nghe thuyết pháp, mỗi tượng cao 0,6m. Những mặt khác của tòa Bát Giác viết những lời trăn của Đức Phật.

Trong số các đệ tử của Đức Phật có hai đệ tử xích mích và hiềm khích nhau, gây chia rẻ. Đức Phật khuyên giải mãi không được. Ngài bèn bỏ vào rừng sau và nhập hạ luôn trong đó. Cảm phục trước giáo pháp của Ngài, hàng ngày có một con Voi và một con Khỉ đi tìm kiếm hoa quả đến dâng cho Người. Sự tích nay được thể hiện qua quần thể tượng cảnh Voi, Khỉ dâng hoa quả cho Đức Phật. Tượng Thích Ca ngồi tham thiền trên tòa sen cao2,7m ; bệ ciment cao 1m. Tượng Voi cao 1,6m dài 5,3m, tượng khỉ cao 0,7m.

Dựng nên cảnh này, những bậc chân tu mong nuốn và khuyên răn mọi người phải đoàn kết, sống hòa thuận với nhau.

Sau khi truyền xong đạo Phật cho chúng sinh, Đức Phật nhập cõi Niết Bàn. Tương truyền năm đó Ngài 80 tuổi. Khi biết mình bệnh nặng, Đức Phật đã truyền cho đệ tử  cho Ngài nằm trên Thạch bàn giữa hai hàng cây Long Thọ. Ngài chậm rải giảng giải những trang kinh Phật cuối cùng cho các vị Tỳ Khưu rồi từ từ viên tịch, nhập cõi Niết Bàn.

Tượng Phật nhập Niết Bàn ở Thich Ca Phật Đài là một tượng lớn. Đức Phật nằm quay mặt về hướng tây trên một bệ ciment cao 4,2m ( Phật thân cao 2,4m kể từ vai xuống), dài 12,2m. Trước tượng Đức Phật nhập Niết Bàn là bốn tượng Tỳ Khưu chấp tay cung kính, mỗi tượng cao 1,8m. Phía sau là năm tượng Tỳ Khưu ngồi chấp tay hướng về Đức Phật, mỗi tượng cao 0,7m. Tất cả là chin Tỳ Khưu, tượng trưng cho số nhiều.

Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, thi hài của Ngài được đưa về hỏa tang tại Cauthina. Sau khi hỏa táng thi thể Ngài chỉ còn lại vài mảnh xương gọi là Xá Lợi. Vua Malla để tất cả Xá Lợi vào một cái hộp bằng vàng và cung nghinh về Hoàng cung để chia cho các nước đem về thờ. Về sau, Vua thâu lại tất cả các Xá Lợi, trộn thêm một ít chất kết dính rồi viên lại thành 84.000 viên để phân phát cho các vương quốc đem về thờ trong Bảo Tháp. Bảo Tháp Thích Ca Mâu Ni ở đây có tôn trí 13 viên Xá Lợi Đức Phật, được đựng trong một hộp bằng vàng. Đây là niềm đại hạnh cho các Phật tử Việt Nam nói chung và Phật tử Vũng Tài nói riêng. Tương truyền các viên ngọc Xá Lợi này do các Phật tử Mianma, srilanca hiến cúng. Bảo Tháp ngọc Xá Lợi ở Thích Ca Phật Đài cao 17m vươn lên gữa sân hành lễ rộng khoảng 300m2, trên có búp sen. Lối lên Bỏa Tháp có đắp hình rồng, hia bên có đôi sư tử chầu tượng trưng cho Đại Hùng – Đại Lực. Dưới chân tháp có một thách án để thờ, trên khắc chữ: ” Nam mô Bỏn sư Thích Ca Mâu Ni Phật” (hết lòng tôn kính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni). Dưới bốn cạnh chân Bảo tháp bát giá đặt bốn cái đỉnh lớn trong dắt bón nắm đất thiêng được thỉnh từ Lumbini ( nơi Ngài đản sanh), Isipatana ( nơi Ngài truyền đạo) và Kusinara (nơi Ngài nhập Niết Bàn) về đây.

 

Sau khi chiêm bái và vãn cảnh ở vườn Lộc Giả, Bảo tháp, từ độ cao gần 29m có thể quan sát miền sông biển, đầm lầy rộng lớn phái bắc Vũng Tàu, từ Núi Lớn, Long Sơn đến cảng dầu khí… du khách theo lối nhỏ bên phải xuống tịnh thất Giác Pháp, nơi ông phủ Vinh ở, tu hành trước đây. Trong tịnh thất bây giờ có bức tượng, bình tro hài cốt của nhà sư Giác Pháp.

Như trên đã nói, Thiền Lâm Tự là ngôi chùa có trước tiên ở đây, nhưng ngôi hiện tại được xây dựng lại cùng thời kỳ với pho tượng điêu khắc trên. So với chùa, nó rộng hơn. Trong chùa thực hiện lễ nghi và bài trí tương tự một số chùa khác. Tượng Phật Thích Ca ngồi kiết già cao 2m, hai bên tượng là A Nan và Ca Diếp đứng hầu, mỗi tượng cao 1,2m.

Thích ca Phật Đài là một quần thể kiến trúc, điêu khắc với ý đồ diễn tả lại sự kiện chính trong cuộc đời Đức Phật, từ khi sinh ra cho đến khi nhập cõi Niết Bàn và di cốt – những viên ngọc Xá Lợi còn lại của Ngài. Chỉ riêng điều này thôi, Thích Ca Phật Đài đã là một công trình Phật giáo đặc trưng của Vũng Tàu nói riêng và Viêt Nam nói chung.

 

DI TÍCH DANH THẮNG NIẾT BÀN TỊNH XÁ

( Đường Hạ Long- Bãi Dứa, Vũng Tàu)

 

Niết Bàn Tịnh Xá nằm ở trung điểm Bãi Dứa, tọa lạc tren triền núi, hướng mặt ra biển. Ở ào vị trí nên thơ đó, Niết Bàn Tịnh Xá có sức hấp dẫn dối với du khách.Niết Bàn Tịnh Xá được khởi công xây dựng năm 1969, năm năm sau ( 1974) mới hoàn thành. Đây là một công trình đồ sộ gồm nhiều phần, nhiều cấp, tọa lạc trên diện tích gần 10.000m2. Lối lên Niết Bàn Tịnh Xá rộng rãi, dọc theo triền dốc. Cổng chính nổi bạc với bốn chữ Hán: Niết Bàn Tịnh Xá. Hai trụ cổng được khắc đôi câu đối đầy ý nghĩa:

Niết Bàn thị hiện, độ chúng niệm Phật tâm không, chân giải thoát.

Tịnh xá quang minh, vô lậu giá ngộ chính pháp, hiển như lai.

Phía trong là hai pho tượng Ông Thiện và Ông Ác cao lớn đứng trông cửa. Bên phải cổng có một bức phù điêu, rộng 2m, cao 4m chạm hình long mã, đầu rồng, phía trên hạc bay múa trong mây. Phù điêu thực hiện bằng kỷ thuật ốp mảnh sứ men trắng vẽ lam, một kỹ thuật khá thịnh hành ở các chùa miếu, lăng tẩm Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Sắc hoa trên mảnh sứ tạo nên sự rực rỡ, trang nhã và sống động cho bức phù điêu. Đối diện với bức phù điêu và phía trước chính điện Niết Bàn Tịnh Xá là trụ phướng thanh thoát, cao vút 21m, gồm 42 não. Trụ phướng được đúc bê tông, dưới to, trên nhỏ dần, xung quanh ốp gạch men màu vàng đỏ, trên có ba nhánh búp sen tỏa điều ra ba hướng là một nét độc đáo của Niết Bàn Tịnh Xá.

Đường lên chính điện Niết Bàn Tịnh Xá là hệ thống 37 bậc tam cấp có lối rộng chừng 2m. Bên phải chính điện, ngay lối lên là hòn non bộ và lầu trống có Phật Di Lặc ngồi trên cao. Chính giữa là tượng hộ pháp Di Đà. Chiếc lư đồng Tứ Lnh (Long, Lân, Quy, Phụng) của Niết Bàn Tịnh Xá có kích thướt lớn, được trang trí khéo léo, công phu và là báu vật của chùa. Chính điện Niết Bàn thể hiện một bức tượng nhập Niết Bàn rất lơn – có lẽ vi vậy mà chùa có danh xưng là Niết Bàn Tịnh Xá. Tượng Phật nhập Niết Bàn, màu nâu hồng tạo khắc đánh bóng công phu, khéo léo nằm nghiêng nhìn về hướng tây, đầu gối lên tay phải, dài 12m nổi bậc giữa chính điện. Vị thế của bức tượng, đầu quay về hướng bắc, chân duỗi thẳng hướng nam, theo truyền thuyết là tư thế của Phật khi nhập Niết Bàn trên tảng đá tại Kusinasa, Gang bàn chân Phật được khắc 52 điểm ấn.

Bức tượng Phật nhập Niết Bàn càng trở nên sinh động, cuốn hút vì được đặt trong không gian có nhiều công trình Phật giáo mang tính nghệ thuật cao: Phía trên đầu và sau lưng Đức Phật nhập Niết Bàn là quan cảnh thiên nhiên xanh tươi nổi bật với hai cây Long Thọ được đắp nổi nhiều lớp, những con sông, con hạc dang rộng cánh ẩn hiện trong mây. Những con sư tử, con hổ, con khỉ phủ phục chầu Đức Phật viên tịch nhập Niết Bàn… Tất cả đều được đắp nổi, chạm khắc công phu với màu sắc hài hòa, thanh khiết tạo nên khung cảnh vừa trang nghiêm vừa sâu lắng trước cửa Phật.

Trên bức tường bên phải chính điện treo một bức tranh sơn mài lớn thể hiện cảnh Phật ngồi thiền. Bên cạnh là một bức tranh khác thể hiện vườn Lộc Giả, nơi Phật Thích Ca thuyết pháp lần đầu tiên.

Nhìn chung, chính điện Niết Bàn Tịnh Xá không lớn, ngoài những pháp khí nhà chùa, chính điện bài trí nhiều tích Phật, trong đó nổi bậc là tượng Đức Phật nhập Niết Bàn, một tác phẩm điêu khăc lớn, niềm tự hào của tăng sĩ, tu sĩ Phật giáo Vũng Tàu.

 

Phía sau chính điện là ” Trai Đường” của cửa Chư Tăng. Trong phòng có treo 3 – 4 bức ảnh diễn tả lại cuộc đời Đức Phật, từ khi sinh ra cho đến khi các đệ tử chia nhau Xá Lợi. Trong phòng còn bai trí nhiều tranh tượng khác, như tranh Di Lặc Lục Trần…kết thúc bằng lối đi tam cấp dẫn lên tầng trên. Dụa vào thế núi, Niết Bàn Tịnh Xá tọa lạc trên nhiều độ cao khác nhau. Phía trên và sau chính điện thờ Phật Tổ. Điện thờ Phật Tổ bài trí ba bức tượng Phật Thích Ca ngồi thiền rất lớn, theo thế đối xứng. Ba bức tượng được sơn son thếp vàng, hòa trong ánh nắng tự nhiên sáng lên màu sắc rực rở toàn khu điện. Trên tương bên phải điện là tranh Đức Phật ngồi dưới tán cây Bồ Đề với cá nữ thí chủ tới cúng dường vào giờ Ngọ. Gần đó là tượng Quan Thế Âm Bồ Tát và tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát. Bên trái điện là tranh thuyền chở ba vị thánh với dòng chữ Hán: ” Tây Phương tiếp dân Tam Thánh hóa hải thoàn”  gần đó và đối xứng với tượng Quan Thế Âm  bên phải là tượng Tổ Sư Đạt Ma và tranh của Ngài. Tại phía này có lối dẫn lên tầng trên. Gọi là tầng trên nhưng  kỳ thực đây là đọ cao lùi vào phía sau của núi được tận dụng làm mặt bằng chứ không phải là lầu nhà. Do đó, đây là một mặt bằng rộng, thoáng đạt, gió mát, du khách có thể dõi tầm mắt ra xa phía biển khơi, hoặc dẽ dàng quan sát ngắm cảnh bờ biển Bãi Dứa. Khoảng sân thật sự là nơi vãn cảnh của du khách. Ở đây, người ta bài trí rất nhiều Bonsai, hoa cảnh. Thấp thoáng phía sau những chậu cảnh mỹ thuật là thuyền Bát Nhã, một con rồng lớn cách điệu dày công tang trí và rất đẹp. xung quanh thuyền được ốp mãnh sứ men lam, men màu. Trong thuyền chứa nước nuôi cá chép. Với ý nghĩa ” thuyền Phật độ chúng sinh qua giác nạn” (giúp chúng sinh tới bến bờ hiểu biết), thuyền Bát Nhã tượng trưng cho trí tuệ Phật giáo. Phía sau Bát Nhá là điện thờ Phật, mặt quay ra biển, chính điện rộng rãi dùng để dựng lại cánh rừng Phổ Đà, nơi Hoàng tử Siddharta bắt đầu khoác chiếc áo vàng của tu sĩ, bước vào cuộc đời tu hành khổ hạnh khi mới 29 tuổi. Cảnh cánh rừng Phổ Đà được thể hiện công phu đến từng chi tiết, là một bức tranh nghệ thuật giùa tính hiện thực. Hai bên phía ngoài có nhiều tượng voi, ngựa rất sống động, chính giữa là tượng Quan Thế Âm Bồ Tát cao 3m. Gần đó có tượng Quan Thế Âm Bồ Tát thứ hai được thể hiện ở tư thế ngồi, bên cạnh có tượng Hồng Hài Nhi đứng trên tòa sen. Bên trái có Long Nữ đứng hầu, phía trên là cánh hạc ngân tràng đang bay tới, bên phải có tượng thần Dạ Lan với hai đệ tử đứng hầu hai bên. Cạnh đó là tượng Địa Tạng Vương cỡi Kỳ Lân. Cách bài trí điện thờ nổi bậc với sự đối xứng mà ở đó không ràng buộc sự tương đồng trong các điển tích Phật giáo. Chính vì vậy đối với du khách thưởng ngoạn thuần túy sẽ luôn luôn được hấp dẫn vì sự đa dạng, phong phú, không đơn điệu như một số chùa chiềng khác.

 

Nổi bật trên mặt bằng trang trí nhiều hoa cảnh của sân thuyền Bát Nhã là gác chuông lớn nối liền với dãy nhà tỉnh nghĩ của các tu sĩ. Gác chuông được xây theo hình vuông, 4 mái uốn cong, đầu các dao đều đắp nổi tượng đồng, trong tháp có một cái chuông lớn gọi là Đại Hồng Chung. Đại Hông Chung được đúc bằng đồng, cao 2,8m; chu vi 3,8m; nặng 3500kg. Đại Hồng Chung không những là chiếc chuông lớn nhất và nặng nhất mà còn có âm vang hay nhất trong các chuông chùa hiện có ở Vũng Tàu.

Muốn thỉnh chuông phải lao một thân gỗ dài treo lơ lững và vú chuông, âm thanh ngân dài và vang xa, gieo một cảm giác lâng lâng khó tả khơi gợi sự đầm ấm và niềm tin về những điều tốt đẹp của cuộc sống.

Từ gác chuông toàn cảnh Niết Bàn như hiện ra trước mặt du khách. Đó là một công trình kiến trúc hài hòa giữa thiên nhiên và biển trời, cây xanh và tiếng chuông ngân tha thiết.

Hàng năm, vào dịp lễ tết, chủ nhật hay ngày rằm, ngày đầu tháng, có hàng vạn lượt khách đến Niết Bàn Tịnh Xá chiêm bái, vãn cảnh. Với một phong cách kiến trúc đặc biệt tọa lạc ở một vị trí tươi đẹp của Bãi Dứa, Niết Bàn Tịnh Xá là một thắng cảnh nổi tiếng của Vũng Tàu được rất nhiều người ở mọi miền đất nước mến mộ và ước mong được một lần vãn cảnh, chiêm bái.

 

KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT TƯỢNG CHÚA KITÔ VÀ TRẬN ĐẠI PHÁO CỔ NÚI NHỎ.

( Phía Nam núi nhỏ hướng về mũi Nghinh Phong) 

Nét đẹp thiên nhiên ở Nghinh Phong – Vọng Nguyệt dường như được nhân lên nhờ bàn tay con người – cải tạo mạn cực Nam núi Nhỏ và xây dựng nơi đây một công trình kiến trúc điêu khắc đồ sộ. Tượng Chúa Kito ở độ cao 170m so với mực nước biển, tượng Chúa Kito cao 32m là một sự nổi bậc và hài hòa trong không gian thoáng đạt của vùng núi non và biển khơi nơi đây.

Bức tượng được xây dựng 1974 sau một qua trình chuẩn bị kỹ lưỡng về  ý đò thiết kế và chọn mẫu. Tất cả các công việc đều do Hội Thiên Chúa Giáo Vũng Tàu chủ trì và thực hiện. Các họa sĩ điêu khắc như Cao Uy, Văn Nhân và các vị có chức sắc trong giáo hội, được giao nhiệm vụ tham khỏa hàng nghin bưc ảnh Chua Kito và thiết kế mẫu phác thảo và sau đó mẫu phác thảo được gửi tới cuộc triển lãm văn hóa –  nghệ thuật tôn giáo toàn quốc để tranh thủ thêm nhiều ý kiến đóng góp của các nhà nghệ thuật. Việc thi công bức tượng được giao cho nhóm kỹ sư tài hoa như Ông Tám Luận, Nan, Quý, Hòa, Hoàng…Hằng ngày có 50 người  lao động  để thực hiện công trình này. Do điều kiện xây dựng khó khăn (núi cao, nền đá, hệ thống dàn giáo khó thực hiện)… công trình kéo dài. Đầu năm 1975 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam đi vào giai đoạn kết. Vì vậy, công trình tượng Chúa Kitô phải dừng lại trong dở dang từ 30 _4 _ 1975. Mãi đến 1993 các công trình phụ khác như hệ thống tam cấp đường lên, những mảng chưa được tô láng ciment trước đây mới được giáo hội Thiên Chúa thực hiện tiếp. và trong tương lai công trình sẽ được hoàn thiện như phác thảo ban đầu. Kiến trúc – điêu khắc tượng Chúa Kitô là một tác phẩm nghệ thuật lớn, là sản phẩm của sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ với kiến trúc nghệ thuật Việt Nam hiện đại mang đậm tính dân tộc và tôn giáo. Về kích thước, với chiều cao 32m, sãi tay dài 18,4m được giới chuyên môn xem đây là bức tượng Chúa Kitô cao nhất thế giới, lớn hơn cả bức tượng Chúa Kitô ở Brazil vốn do hai quốc gia Arhentina và Brazil xây dựng ( chỉ cao 26m vay sải tay dài 10m).

Tượng Chúa Kitô núi Nhỏ quay mặt về hướng Nam nhìn ra biển Đông. Nét mặt nhân từ bao dung. Đôi tay dang rộng như đang che chở, bảo bọc chúng sinh. Dẫu là mộ bức tượng được xây dựng bằng bê tông cốt thép, bên ngoài tô đá rửa, nhưng những chi tiết thuộc về nghệ thuật và thẩm mỹ như tư thứ bức tượng, nét mặt, trang phục… đều được thể hiện hết sức mềm mại, sinh động và giàu sức sáng tạo.

Bên trong tượng có cầu thang xoắn ốc đi từ chân tượng lên tới đỉnh tượng. Ánh sáng bên ngoài chiếu rỏ lòng tượng nhờ hệ thống ” cửa sổ” hình chữ ” Thọ” trang trí trên áo. Lên hết 133 bậc tam cấp trong lòng tượng du khách có thế đi qua hai bên vai và tay áo tượng – như hai chiếc ban công an toàn, chác chắn để ngắm bờ biển Vũng Tàu và đón gió biển thổi vù vù mát rượi. Mũi Nghinh Phong như một chiếc tàu đang lau đi giã muôn trùng sóng vỗ và Bãi Sau với muôn ngàn song như những vòng nguyệt quế ôm lấy dãy đất hình cánh cung mờ trong sương khói… Hai bàn tay tượng Chúa Kito dài tới 2,2m; ngón giữa dài 1,1m có chiếu tia hào quang làm bằng kim loại vừa trang trí vừa có tác dụng thu lôi.

Tượng Chúa Kitô cao 32m đặt trên một bệ bê tông có bốn góc tạo hình cánh cung cao 10m, mỗi cánh dài 12m, phía trước bệ được trang trí bức phù điêu phỏng theo tác phẩm nổi tiếng của danh họa Ý Leona de Vinci ” Bữa tiệc biệt ly”. Mặt sau là một bức tranh lớn ” Đức Chúa trao chìa khóa cho Phêro”.

Ở vị trí phía Nam của núi Nhỏ, tọa lạc tại một không gian dễ thu hút vào tầm mắt của du khách đến tắm biển Vũng Tàu, là một tác phẩm lớn về kiến trúc nghệ thuật tôn giáo mang dấu ấn bản sắc dân tộc, tượng Chúa Kito núi Nhỏ là điểm thu hút khách tham quan du lịch trong và ngoài nước.

Ngay phía dưới bên chân tượng Chúa Kitô, du khách bắt gặp hai cổ pháo khổng lồ. Đó là một trong số 11 đại pháo của trận địa pháo cổ núi Nhỏ. Trận địa pháo náy là một trong ba trận địa, tạo thành tuyến phòng thủ Vũng Tàu của người Pháp xây dựng cuối thế kỷ XIX và được bổ sung thay thế một số vào đầu thế kỷ XX. Về mục đích thời gian và chiến lược xây dựng các trận địa pháo phòng tuyến Vũng Tàu, du khách đã được biết khi xem trận địa pháo Cầu Đá – vịnh Hàng Dừa. Dĩ nhiên trận địa pháo phía Nam núi Nhỏ này có chức năng là cốt tiền tiêu, là mặt trước của cữa ngõ và được cấu trúc bố phòng các trận địa pháo mà quý khách đã được xem qua.

Trận địa pháo núi Nhỏ được bố trí thành ba cụm theo thế vòng cung bao quát cả biển phía đông và nam Vũng Tàu.

Cụm thứ nhất, ngay  dưới chân tượng Chúa Kitô, gồm ba khẩu ở độ cao trung bình 136m so với mặt nước biển. ba cổ pháo ở cụm thứ nhất có cùng kiểu dáng, ấu tạo và cở đạn là 240mm, nòng dài 12,33m. Trên thân các cổ pháo đều co ghi ký hiệu, kích cở nòng súng, kiểu dáng và năm sản xuất, trọng lượng của pháo và phân hiệu của đội. Mỗi cổ đều được đặt trong một công sự đào sâu dưới mặt đất hình tròn, có đường kính 10,5m. Nhờ hệ thống bánh răng cưa gắn với hệ cố định, các cổ pháo này có thể quay tròn mọi hướng và có thể nâng cao hay hạ thấp. các cổ pháo liên hệ với nhau bằng hệ thống giao thông hào và hầm trú ẩn – chứng tỏ đây là một trận địa pháo thường trực.

Cụm thứ hai, gồm năm khẩu, độ cao trung bình là 91m so với mực nước biển. năm khẩu đều có cùng kiểu dáng, cấu tạo và cở đạn là 300mm. Trên thân các phóa đều có ghi các ký hiệu về cở đạn, kiểu dáng, năm sản xuất, trọng lượng và phân hiệu khẩu đội. Cụm pháo thứ hai nằm cách cụm pháo thứ nhất chừng 300m về phía bắc. năm cổ pháo này được bố trí thành hai ụ cách nhau chừng 20m. Hai ụ pháo này được đặt trong công sự hình chữ nhật sâu dưới mặt đất. ụ thứ nhất gồm 3 khẩu, ụ thứ hai gồm hai khẩu ( trên thực tế du khách chỉ thấy còn 4 khẩu ở cả hai ụ. Một khẩu chỉ còn lại mâm pháo do súng được chuyển về trưng bày trong bộ sưu tập súng cổ ở sân Bạch Dinh).

Năm cổ pháo ở cụm thứ hai có tính năng chiến đấu như cụm thứ nhất, chue động tầm hướng nhờ hệ thống răng cưa. Phía sau các công sự hình chữ nhật làm nơi đặt pháo là các hầm trú ẩn và giao thông hào. Ở mỗi ụ, hầm trú ẩn mở rộng tới 100m, được chia thành nhiều phòng, vừa dùng làm nơi chứa đạn, vừa là chổ sinh hoạt của pháo thủ.

Cụm thứ ba gồm ba khẩu, ở độ cao trung bình khoảng 90m so với mực nước biển. ba cổ pháo ở cụm này có cở đạn bằng nhau là 140mm. trên thân pháo đều ghi các thông số cần thiết. Tuy nhiên, nếu hai cụm pháo thứ nhất và thứ hai gồm những cổ pháo được thay thế mới vào thế kỷ 20 thì ba cổ pháo này vẫn là những cổ pháo của giữa nữa cuối thế kỷ 19. Vì vậy, chúng bị hoen rỉ, hư hỏng nặng. Các thông số bị mài mòn, chỉ có thể đọc đầy đủ nhờ ghép các chi tiết khẩu này với khẩu kia.

Cụm thứ ba cách cụm thứ hai 300m, cách cụm thứ nhất 650m. Ba cổ pháo được đặt riêng biệt trong ba công sự hình tròn, cách đều nhau 27m. Và được nối với nhau bằng hệ thống giao thông hào và hầm trú ẩn. Về tính năng chiến đấu, cac đại bác 140mm cũng có ưu điểm như các cổ 240mm và 300mm.

KHU DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐÌNH THẦN THẮNG TAM

( Đường Hoàng Hoa Thám, Phường 2, Vũng Tàu).

          Gọi như vậy vì đây là một quần thể kiến trúc gồm ba di tích gắn bó với nhau trong mối liên hệ mang sắc thái riêng của những người đi biển – dân làng Thắng Tam. Đó Đình Thần Thắng Tam, miếu Bà Ngũ Hành, lăng Ông Nam Hải (cá Ông).

 

ĐÌNH THẦN THẮNG TAM

 

Trên khắp đất nước Việt Nam , ở các làng xa ngày xưa đều có đình thần. Đình thần  là nơi thờ phụng Thành Hoàng. Người có công khai phá dựng làng, dựng nước tại địa bàn sở tại, tiền hiền và hậu hiền – những người tiếp nối đến mở đất dựng làng, dựng nước. Đình làng còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa và tin thần của cư dân trong một cộng đồng được xác định bởi một đơn vị hành chính cơ sở. Trải qua thời gian tồn tại lâu dài, do những biến động của lịch sử, một số làng, xã đã không còn đình làng. Tại ba ngôi làng tiền thân của Vũng Tàu còn ba ngôi đình. Có thể nói đình làng Thắng Tam là biểu hiện đặc sắc của đặc trưng văn hóa độc đáo của ngư dân miền biển – Vừa có những đặc điểm chung của đình làng Việt Nam, vừa có những nét riêng trong thờ cúng và sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng.

Theo truyền ngôn, Đình Thần Thắng Tam được xây dựng từ thời vua Minh mạng (1820 – 1840). Hiện nay, đình thần còn lưu giữ 12 đạo sắc của nhà Nguyễn phong cho các vị thần được thờ tại dình là Thiên y A Na, Đại càn Quốc Gia Nam Hải, Thượng Đẳng Thần, Cá Ông, Thủy Long Thần Nữ.. Theo truyền thuyết, Đình Thần Thắng Tam thờ chung cả ba người  đã có công xây dựng nên ba làng Thắng ở Vũng Tàu, đó là: Phạm Văn Dinh, Lê Văn Lộc và Ngô Văn Huyền. Chuyện kể rằng: Thuở ấy hải tặc Mã Lai và Tàu Ô thường hay đột nhập cửa sông Bến Nghé đón đường cướp bóc tiền bạc, hàng hóa, bắt cóc người trên các thuyền buôn. Tình hình đó đã gây bất ổn và cản trở việc thông thương giữa Gia Định và các tỉnh miền Trung. Để bảo vệ thương thuyền của người Việt. Vua Gia Long liền phía ba đội quân đi trên ba chiếc thuyền ( Tam Thoàn, Vũng Tàu còn được gọi như thế). Mỗi đọi quân do một viên suất đội thống lĩnh. Đổ bộ lên bán đảo Vũng Tàu, họ đã lập doanh trại, đồn binh của mình là Phước Thắng (hạnh phúc và thắng lợi). Ba đội quân vừa làm việc nước – bảo vệ sự thanh bình cho bờ biển cửa ngõ, vừa khai hoang lập làng, làm ăn sinh sống. Trong vòng mấy năm, phần lớn hải tặc Mã Lai và Tàu Ô bị diệt trừ. Số ít còn lại chẳng dám sách nhiễu thương thuyền nữa. năm 1822, Minh Mạng ban chiếu khen thưởng chức tước, phẩm hàm cho đội quân và cho họ được giải ngũ. Để thưởng công nhà vua đã ban thưởng phần đất mà họ đã có công khai phá. Hoa lợi thu được hoàn toàn miễn thuế. Từ ba vị trí của ba quân đội dần dần hình thành nên ba làng Thắng. Làng thứ nhất gọi là làng Thắng Nhất do ông cai đội Phạm Văn Dinh chỉ huy. Làng Thắng Nhì do ông cai đội Lê Văn Lộc chỉ huy. Làng Thắng tam do ông cai đội Ngô Văn Huyền chỉ huy. Dân các làng Thắng vừa làm ăn sinh sống vừa bảo bệ an ninh bờ biển. Sau khi ba ông đội chết, triều đình ban sắc phong cho ba ông. Ba làng đều có cử các vị kỳ lão ra kinh đô Huế nhận sắc phong. Hai làng Thắng Nhất và Thắng Nhì không đi được vì thời gian nhận sắc phong khá lâu, đường sá xa xôi hiểm trở nên đã về trước. các vị kỳ lão Thắng Tam nhận được sắc phong sau hơn 6 tháng ra vào chờ đợi. Dân làng Thắng Nhất và Thắng Nhì cho rằng làng Thắng Tam đã nhận luôn sắc phong của làng mình. Nhưng làng Thắng Tam lại không chịu vì trong lệnh sắc phong có ghi rõ ” Thắng Tam Phụng Sự”. hai làng kia đuối lý và làng Thắng Tam thờ luôn ba sắc phong đồng thời cũng thờ luôn hai vị tiền hiền của hai làng kia trong đình thần của làng mình. Hiện nay, cả ba sắc phong này đều bị thất lạc. Tuy nhiên câu chuyện trên đây đã phản ánh phần nào của sự thật.

Đình Thần Thắng Tam lúc đầu xây dựng chỉ là nhà tranh vách lá. Năm 1835 mái được lợp ngói, năm 1965 được trùng tu mới như hiện nay. Kiến trúc Đình Thần Thắng Tam có cổng tam quan, nhà Tiền Hiền, Hội Trường, ngôi Đình Trung và sân khấu võ ca. trong đình bài trí nhiều đò lễ, chạm trổ tinh xảo, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Đình Thần Thắng Tam kiến trúc theo lối nối tiếp, đó là một dãy nhà gồm 4 ngôi nối liền nhau bằng một lối đi bên hông: Tiền Hiền – Hội Trường – Đình Trung – sân khấu võ ca. Ngôi Tiền Hiền được lợp bằng ngói âm dương, trên mái có hình ” Lưỡng Long Chầu Nguyệt” đắp nổi. Đầu các đòn tay, xá gồ, cột đều chạm khắc hình rồng. Nội thất nhà Tiền Hiền bày bốn bàn thờ: bàn thờ Thổ Công, Tiền Hiền và Hậu Hiền., Tiền Vãng và Hậu Vãng ( tưc thờ Thổ Công, Tiền Hiền và Hậu Hiền, dân làng đến trước và đến sau).

Hội Trường là nơi sinh hoạt của Hội viên thuộc Hội Đình (Hội Đình Thắng Tam hiện nay có hơn 500 hội viên, có ban hương chức thôn hội chia làm 10 bậc từ thấp đến cao).

Tiếp theo phần Hội Trường là ngôi Đình Trung có cấu trúc tương tự ngôi Tiền Hiền. Ngôi Đình TRung bày trí 10 bàn thờ theo lối: 3 – 4 – 3; Thờ Thần Nông, Thiên Y A Na, Ngũ Đức, Thánh Phi, hậu Hiền – Thần, Hội Đồng, Phụ Án, Tiền Án – Cao Các, Thiên Sư , Ngũ Thơ, Ngũ Tự và Tiền Hiền ( bốn bàn thờ phái giữa năm vượt lên phía trước). Khác với nhiều nơi, Thàn Nông được thờ ngoài trời, ở Đình Thần Thắng Tam, Thần Nông được thờ bên trong.

Sân khấu võ ca là nơi diễn tuồng, hát bội khi đình Thần có lễ hội.

Ngoài những gia trị mang ý nghĩa lịch sử, văn hóa, Đình Thần Thắng Tam còn lưu giử những lễ hội in đậm văn hóa dân gian và bản sắc dân tộc. Hằng năm, Đình Thần Thắng Tam đều có tổ chức lễ hội cầu an trong 4 ngày từ 17 đến 20 tháng 2 âm lịch. Đây là thời điểm kết thúc và mở đầu cho một mùa thu hoạch tôm cá. Việc tổ chức cúng tế, lễ vật tế thần, cách dâng hương quỳ lạy, chiêng trống kèn nhạc…của lễ hội cầu kỳ và nhiều vẻ. Lại có những tục kiêng kỵ trong tế lễ được lưu truyền, gìn giử và chấp hành đầy đủ từ xưa đến nay. Chẳng hạn, người có tang không được trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ trong ghi lễ, heo dùng để tế lễ phải có bộ lông thuần màu…

Trong qua trình tế lễ của đình, người ta thường tổ chức những trò vui giải trí như múa lân, hát bội… Đình thần thức suôt đêm. Tiếng trống, tiếng nhạc, tiếng hát làm huyên náo, rộn ràng cả một vùng suốt mấy ngày đêm.

 

Lễ hội Đình Thần Thắng Tam là một hoạt động văn hóa đặc sắc của ngư dân miền biển Vũng Tàu. Nhiều nét đẹp văn hóa  được đúc kết nơi đây. Nếu du khách viếng thăm Đình Thần Thắng Tam vào dịp có lễ hội, hẳn đó là chuyến tham quan thú vị và sinh động nhất trong chuyến du lịch Vũng Tàu.

 

MIẾU BÀ

Miếu Bà nằm bên trái khu Đình Thần Thắng Tam, còn có tên miếu Ngũ Hành, tên gọi ấy phản ánh các đối tượng được thờ cúng trong miếu.

Tương truyên Miếu Bà xây dựng vào cuối thé kỷ 19. Lúc đầu nó chỉ là ngôi nhà tranh vách lá do người dân Thắng Tam xây dựng để thờ Ngũ Hành, tức năm yếu tố vật chất: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ( theo tư tưởng triết học Trung Quốc mà Việt Nam chịu ảnh hưởng). Ngoài Ngũ Hành, Miếu Bà còn thờ hai vị hộ quốc được vua phong Thượng Đẳng Thần là bà Thiên Y A Na và Thủy Long Thần Nữ. Điều này chứng tỏ tính riêng của ngôi miếu khi chủ nhân của nó là những người sống bằng nghề chài lưới trên biển.

Miếu Bà được kiến trúc theo lối một gian hai chái. Trên mái có hình Lưỡng long Chầu Nguyệt. Bên trong có 8 bàn thờ, bàn giữa chính điện thờ 5 bà và bộ ngũ sự, hai bên có bàn thờ 5 cô, 5 cậu. Hai vị Thượng Đẳng Thần không có tượng, tiếp theo bên trái là bàn thờ Quan Công, Quan Bình và Châu Xương là những bậc trung nghĩa và sẵn sàng cứu hộ những người đi biển khi họ gặp chuyện không may. Bên phải là bàn thờ Ông Địa – Thổ Công. Phía sau là bàn thờ Tiền Hiền và bàn thờ những người giàu lòng nhân ái, độ lượng trong làng.

 

Hàng năm, Miếu Bà tổ chức lễ hội vào ba ngày từ 16 đên 18 thàng 10 âm lích. Quản lý Miếu và tổ chức điều hành lễ hội là những người trong ban điều hành. Hội viên của Miếu Bà chỉ dành cho giới nữ. Ban điều hành cũng chỉ do các bà phụ trách (ba bà cố vấn, sáu bà trong ban điều hành với 160 hội viên).

Lễ hội Miếu Bà là ngày sôi động và linh đình. Ngoài việc cúng tế thần linh, người ta còn tổ chức máu lân, các trò vui, ban đêm tổ chức hát tuồng. Nổi tiếng hiển linh, vào các ngày hội người từ thập phương về hành hương, phụng cúng rất đông. Miếu Bà và lễ hội Miếu Bà là nét đặc sắc của dân cư ven biển Bà Rịa – Vũng Tàu.

 

LĂNG CÁ ÔNG

          Năm trong khu Đình Thần Thắng Tam phía bên phải. Lăng cá Ông được xây dựng cùng thời kỳ với Miếu Bà., nghĩa là vào khoảng cuối thế kỷ 19. Hiện nay trong Lăng còn bảo tồn xương cá Ông khổng lồ do ngư dân Vũng Tàu vớt được từ 100 năm trước đây.

Truyền thuyết về cá Ông hiện còn lưu truyền ở Vũng Tàu và từ rất sớm đã được chép trong thư tịch cổ, rằng: Cách đây hơn 100 năm ( giữa thế kỷ 19) có một đầu cá to lớn trôi dạt vào bãi biển Tầm Dương. Đầu cá lớn đến nổi ngư dân không thế đưa lên bờ được, Họ phải xóc cờ rào lại chờ cho thịt rửa sạch rồi tháo từng khưc xương đưa vào miếu thờ. Vì sao cá Ông lại chết chỉ còn một phần đầu? Tài liệu người Pháp cho rằng: năm 1868, có một đầu cá to lớn lâu ngày rữa thịt chỉ còn xương tấp vào bãi Thùy Vân. Do thi thể cuả ” Nam Hải Đại Tướng Quân” bị Long Vương Thủy Tề trừng phạt, chém làm ba khúc vì xao lãng nhiệm vụ để cho một chiêc ghe chìm làm chết 60 người trong một cơn bão. Ba khúc cá tấp lên bờ. Dân ba làng Thắng Tam, Phước Tỉnh, Cần Giờ mỗi làng thỉnh một bộ phận về thờ. Đình Thần Thắng Tam được phần đầu…. Thực hư như thế nào thất khó giải thích, chỉ biết việc thờ xương cá Ông ở ba làng trên và phần đầu hiện ở Đình Thần Thắng Tam là có thật. Tất nhiên, về niên đại có thể người Pháp nói không đúng nếu căn cứ vào sắc phong hiện còn lưu giữ. Khoảng 40 năm sau đó, có một con cá dài chừng 12m, lớn hơn 1,5m bị chết trôi dạt vào bờ biển Thùy Vân. Ngư phủ Thắng Tam đã dùng đòn đưa về chôn cất tại lăng hiện tại trong khu đình Thắng Tam. Ngày phát hiện cá Ông chết nhằm gày 16 – 11 âm lịch. Ngư dân lấy ngày đó làm ngày vía Cá Ông. Năm 1967, ngư dân xin keo và chọn ngày16 – 8 âm lịch làm ngày Vía. Và như thế có lẽ hợp lý hơn. Vì khi phát hiện cá Ông trôi dạt vào bờ thịt đã rữa ra thì có nghĩa cá đã bị chết từ rất lâu.

Lăng cá Ông Thắng Tam có tới ba sắc phong do vua ban tặng. Vua Thiệu Trị ban hai đạo sắc vào năm thứ năm ( 1846), vua Tự Đức ban cho đạo sắc vào năm thứ ba ( 1850). Hiện nay, ngày 16 – 8 âm lịch, cứ ba năm một lần, những người quản lý Lăng được gọi là hội ” Lương hữu Vạn Lạch” lấy một xương trong Lăng đem thờ trong ba tủ kính. Vào ngày vía cá Ông, ngư dân và khách thập phương tụ hội về đông vui nhộn nhịp. Người ta đến đây cầu mong sự bình yên may mắn trong chuyến đi biển, xin xăm báo trước điều tốt lành, rủi ro, xem hát và vui chơi giải trí…

Lăng cá Ông có kiến trúc theo lối cổ xưa, bên trong bày ba tủ kính lớn đựng xương ca Ông tương xứng với nó là ba bàn thờ. Hai bên tả, hửu có thêm hai bàn thờ của Bà Sáu ( Thần Rùa) và tổ nhạc. Ngư dân Vũng Tàu quan niệm rằng mỗi khi có cá Ông chết tấp vào bờ, người nào trông thấu đầu tiên thì được xem như là con trưởng của cá Ông. Khi làm lễ an táng cho cá Ông, người đó phải chịu tang và thực hiện các nghi lễ tang ma như là dám ma cho cha đẻ mình vậy.

Lễ hội ” Nam Hải Đại Tướng Quân” – danh hiệu của Cá Ông do vua Thiệu Trị ban tặng được tổ chức cùng với ngày Vía ( ngày chết) của cá. Lễ hội kéo dài trong ba ngày từ 16 đến 18 tháng 8 âm lịch hàng năm. Gồm có: Lẽ cúng Ông, lễ nghinh Ông ( đón cá) gồm nhiều ghe thuyền trang trí lộng lẫy, thắp đèn sáng trưng chạy vòng biểu diễn ngoài biển, những hình thức tế lễ cá Ông mang đậm màu sắc riêng của cư dân miền biển nhưng trong lễ hội người ta cũng dành một buổi cúng Tiền Hiền, một buổi tế lễ Thần Linh – như việc tổ chức cúng tế trong đình làng…

Khu di tích Đình Thần Thắng Tam, bao gồm cả Miếu Bà và Lăng Cá Ông ẩn  chứa những giá trị văn hóa quý báu của cư dân miền biển Vũng Tàu. Những nét đẹp về Phong Tục tâp quán dường như được hóa thân trong từng chi tiết kiến trúc của di tích, của phong cách sinh hoạt tổ chức lễ hội. khu di tích Đình Thần Thắng Tam và những lễ hội liên quan của nó đã bảo lưu được những di sản qúy giá. Hiện nay, không kể các ngày lễ hội và những ngày có rất đông du khách hành hương mà những ngày thường khu Đình Thần Thắng Tam cũng chào đón rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước đên thăm viếng.

CÁ VOI Ở VIỆT NAM

Theo tài liệu Mammals of the world của Michel Boorer: Cá Voi (lớp Cetaeea) chính là thú, hô hấp bằng phổi đã thích ứng để sống trong môi trường nước.

Lớp chia ra 2 bộ:

Bộ 1: Gồm cá Voi không có răng, miệng có một hệ thống sợi dài mắc vào hàm trên, các sợi khi miệng cá mở ra thì tạo ra thì tạo ra 1 hệ hống màn lọc mồi. Sở dĩ cần màn lọc này là vì cá Voi chỉ chuyên ăn có một thứ mồi duy nhất, đó là tôm Euphausia supberba sống phiêu sinh trong biển vùng cực Bắc & cực Nam. Khi ăn, cá Voi nổi lên mặt nước, miệng há thật to hớp nước cùng với tôm phiêu sinh, sau đó nó phun nước ra, tôm sẽ được các sợi của màn lọc giữ lại. Cứ 1 lần hớp nước và phu ra, nó lấy được 500kg tôm. Giống tôm này chỉ sống ở miền Cực, nên khi cá Voi theo tàu biển chuyển xuống miền nhiệt đới thì không còn thức ăn. Phiêu sinh vật biển nhiệt đới rất nghèo so với vùng Cực & không hề có tôm Euphausia suberba, cá Voi sẽ chết đói. Đó là trường hợp con cá Voi mà bộ xương còn lưu lại trong Đình Thần Thắng Tam (VŨNG TÀU).

Bộ 2: Gồm cá Voi có răng, nhưng răng chỉ hiện diện ở hàm dưới. Đây là trường hợp con cá Voi Physéter australis trưng bày trong Thảo Cầm Viên (SG). Nhóm này cũng chỉ sống ở biển lạnh như biển Cực & biển Ôn Đới, vì mồi của nó là con mực khổng lồ Megateuthis australis chỉ sống ở vùng đáy sâu biển lạnh. Như thế những con cá Voi trôi dạt vào bở biển ở Việt Nam đều không sống thường xuyên tại đây, chúng chỉ là những con lìa đàn, theo tàu biển tới vùng nhiệt đới & sau một thời gian đói ăn trôi dạt vào bờ.

 

CÔN ĐẢO – HÒN NGỌC CỦA VŨNG TÀU

Côn Lôn tức Côn Đảo là một quần đảo xa xôi trên biển đông, nơi đã từng là “địa ngục trần gian” giam cầm những người Việt Nam yêu nước chống lại chế độ Thực Dân Pháp và chính quyền Sài Gòn trong suốt 113 năm ( 1862 – 1975 ). Ngày nay, côn đảo đã chuyển mình, là thiên đường du lịch xanh với những bờ cát trắng, nước biển trong xanh, rừng nguyên sinh và núi non hùng vĩ. Những đảo nhỏ bao quanh cũng là điểm hẹn lý tưởng cho các bạn trẻ yêu thích dã ngoại, bơi lặn  …… hay đi tìm một không gian lãng mạn riêng tư. Bao quanh Côn Lôn tức là Côn Đảo có 15 hòn đảo khác là:

  1. Hòn Côn Lôn nhỏ tức Hòn Bà ngày nay (còn gọi là Phú Sơn) nằm về phía Tây Nam của hòn Côn Lôn có diện tích 5,450km2. Hòn Côn Lôn nhỏ cách hòn Côn Lôn lớn bởi một khi nước khoảng khoảng 20m gọi là Họng Đầm (cửa tử). Nơi đây còn có đỉnh núi cao 321m gọ là Đỉnh Tình Yêu.
  2. Hòn Bảy Cạnh (hay Phú Cường) cách Côn Lôn 7km về phía Đông Nam, có diện tích 5,500km2. Ở đây có ngọn hải đăng, được xây dựng từ năm 1884. Hiện nay ngọn hải đăng này vẫn còn đang hoạt động với tầm bán kính 72km, để hướng dẫn tàu thuyền đi lại gần vùng biển Côn Đảo.
  3. Hòn Cau (hay Phú Lệ) có diện tích 1,800km2 nằm cách Côn Lôn 12km về phía Đông. Đảo này có nhà ngục giam tù chính trị và trong thời gian Pháp thuộc 1930 – 1931 đồng chí Phạm Văn Đồng đã bị đày ra đày ra đảo Hòn Cau này.
  4. Hòn Bông Lan (hay Phú Phong) có diện tích 0,150km2 có hình dạng như chiếc bánh bông lan
  5. Hòn Vung (hay Phú Vinh) có diện tích 0,150km có hình dạng như chiếc vung nồi úp chụp trên mặt biển xanh.
  6. Hòn Trọc: (hay Phú Nghĩa) có diện tích 0,400km2, nơi này có nguồn khai thác ngọc trai quý giá.
  7. Hòn Trứng (hay Phú Thọ): có diện tích 0,100km2 với hình dạng như một quả trứng khổng lồ.
  8. Hòn Tài Lớn (hay Phú Bình) có diện tích 0,380km2
  9. Hòn Tài Nhỏ (hay Phú An) có diện tích 0,250km2.
  10. Hòn Trác Lớn (hay Phú Hưng) có diện tích 0,250km2.
  11. Hòn Trác Nhỏ (hay Phú Thịnh) có diện tích 0,100km2. Bốn hòn đảo này là chuổi đảo liên tiếp nối với hòn Bảy Cạnh trải dài từ Đông Bắc xuống Tây Nam che chắn bên ngoài hòn Côn Lôn.
  12. Hòn Tre Lớn (hay Phú Hòa) có diện tich 0,750km2
  13. Hòn Tre Nhỏ (hay Phú Hội) có diện tích 0,250; hai đảo này có rất nhiều tre. Năm 1930 – 1931 thực dân Pháp đã dùng Hòn Tre Lớn làm nơi lưu đày tù chính trị như ở Hòn Cau và nơi đây đồng chí Lê Duẩn bị đày ải một thời gian.
  14. Hòn Anh (hay hòn Trứng Lớn)
  15. Hòn Em (hay hòn Trứng Nhỏ) hai đảo này nằm phía Tây Nam của Côn Lôn, và cách đảo chính gần 25 hải lý.

Lịch sử :

  • 1284: Nhà thám hiểm Marco Polo ghé Côn Đảo để tránh bão
  • đầu thế kỷ 16, những thủy thủ Bồ Đào Nha lần đầu đặt chân lên côn đảo
  • 1783: Nguyễn Ánh bị truy đuổi ra tận côn đảo.
  • 28/11/1787: Linh mục Bá Đa Lộc thay mặt chúa Nguyễn kí hiệp ước Versailles, công nhận một số quyền lợi của Pháp tại côn đảo
  • 28/11/1861: Thực dân Pháp đánh chiếm côn đảo.
  • 20/3 đến 19/4/1895: Nhà soạn nhạc lừng danh người pháp là Camille Saint Saens hoàn thành 3 chương cuối của cở nhạc kịch Brunenhilda tại Côn Đảo.
  • 1862 đến 1975: Côn Đảo là nơi giam cầm những người yêu nước chống lại chế độ thực dân pháp và chính quyền sài gòn
  • 1976 đến nay: Côn Đảo là điểm hẹn của những cựu tù và những người yêu thích thiên nhiên.

Côn Đảo có 285 loài thực vật, 100 loài chim thú; nhiều loại cây đặc trưng cho rừng ở Miền Bắc, miền Trung, miền Nam và rừng nước mặn. Có những loại chim thú riêng có ở Côn Đảo như: sóc mun, chim gầm ghì trắng và nhiều sản vật quý như tổ yến, đồi mồi, vích, cá heo, cá mập, hải sâm, rau câu…

Cách Vũng Tàu 97 hải lý, Côn Đảo là một quần đảo bao gồm 16 đảo nằm ở 1060 36’ kinh đông và 8046’ vĩ bắc, đảo lớn nhất là côn sơn có diện tích 51,5 km2, với chiều dài khoảng 15 km và chiều rộng từ 1 – 3 km. Đảo có địa hình đồi núi, hầu hết được phủ rừng, ngọn núi cao nhất là đỉnh thánh giá cao 577m.

Côn Đảo có khí hậu nhiệt đới với hai mùa rõ rệt trong năm : Khí hậu Côn Đảo mát mẻ, thuận lợi cho sức khỏe con người. Nhiệt độ tring bình hàng năm 28oC. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 (gió mùa tây nam), mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 (gió mùa đông bắc), lượng mưa trung bình là 2.200,7 mm, nếu đến côn đảo bằng máy bay, chúng ta có thể đi bất cứ lúc nào trong năm, nếu ra đảo bằng tàu thủy,  thì thời gian tốt nhất từ tháng 3 đến tháng 7 – đây là mùa biển êm. Côn Đảo có 200km bờ biển với hàng chục bãi tắm đẹp. Nổi tiếng là bãi Rong, bãi Đầm Trầu, bãi Ông Đụng.

Những phát hiện về khào cổ học cho biết lớp dân cư đầu tiên đã có mặt ở Côn Đảo cách đây từ 4.000 – 5.000 năm. Họ có mối quan hệ văn hóa gần gũi với chủ nhân di tích khảo cổ thời hậu kỳ đồng thau, sơ kỳ đồ sắt ở lưu vực sông Đồng Nai (miền Đông Nam Bộ).

Trong quá trình lập nghiệp ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn đã quan tâm thực hiện chủ quyền đất nước với các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và Côn Đảo. Đời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1752), Côn Đảo do hội Hoàng Sa quản lý. Thất bại trong cuộc giao tranh với quân Tây Sơn năm 1783, chúa Nguyễn Ánh đã rút quân ra Côn Đảo, đem theo 100 gia đình, lập nên các làng An Hội, An Hải, Cỏ Ống và Hòn Cau. Nhiều năm sau, dân nghèo các tỉnh Vĩnh Long, Gia Định, Định Tường, Biên Hòa được chúa Nguyễn khuyến khích ra lập nghiệp tại Côn Đảo. Chính quyền sở tại ưu tiên cấp vốn, công cụ, trâu bò và phương tiện ra đảo cho họ.

Từ thưở ấy trong công cuộc khai phá quần đảo, dựng làng, lập ấp đã để lại nhiều dấu ấn trong nhiều truyền thuyết gắn với tên núi, tên làng trên hòn đảo này.

Từ sau ngày giải phóng, Côn Đảo là một đơn vị hành chánh cấp tỉnh, sau trở thành một huyện của TP. Hồ Chí Minh, rồi thuộc tỉnh Hậu Giang, đến tháng 5/1979 là một quận của đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo; từ tháng 10/1991 đến nay là một huyện của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Qua nhiều đổi thay, Côn Đảo bao giờ cũng là một đơn vị hành chính hết sức đặc biệt: Tỉnh không có quận, huyện không có xã, phường. Trong nhiều năm qua dân số Côn Đảo biến động ở mức 2.000 người, tương đương với dân số ở một xã hẻo lánh ở miền núi. Lịch sử đã để lại trên hòn đảo này  một nhà tù với chiều dài hơn một thế kỷ. trong hơn một thế kỷ ấy, ngoài hệ thống nhà tù và bộ máy trị tù, Côn Đảo không có một cơ cấu dân cư, không có một cơ sở kinh tế – xã hội nào khác. Thêm vào đó là sự cách trở với đất liền khiến cho việc phát triển kinh tế xã hội ở Côn Đảo gặp nhiều khó khăn, trở ngại.

Côn Đảo từ hơn 40 năm qua, kể từ ngày hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ Côn Đảo đặt lên hàng đầu nhiệm vụ bào tồn, tôn tạo khu di tích lịch sữ Côn Đảo, kết hợp với việc khai thác những tiềm năng kinh tế và bảo vệ an ninh quốc phòng. Từng bước ổn định đời sống của cán bộ và nhân dân trên đảo, ngăn ngừa sự xuống cấp của khu di tích lịch sử cách mạng Côn Đảo, xây dựng đề án bảo tồn khu di tìch và xây dựng quy hoạch tổng thể huyện Côn Đảo (CĐ) là một trong những vấn đề chủ yếu mà Đảng bộ và nhân dân Côn Đào đã nổ lực phấn đấu trong 20 năm qua.

Những năm gần đây CĐ đã thực sự chuyển mình, phát huy mạnh mẽ những tiềm năng vốn có. Một trung tâm dịch vụ đánh bắt và thu mua hải sản đang được hình thành trên đảo. Hàng trăm ghe đánh cá từ các tỉnh miền Trung, miền Tây quần tụ về đây với số lượng ngư dân có lúc đông hơn dân đảo. Hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc giữa CĐ với đất liền đã có những bước tiến lớn. Số lượng khách du lịch đến thăm CĐ ngày càng nhiều, trong đó có nhiều đoàn khách quốc tế. Khách đến thă CĐ đã tận mắt chứng kiến những di vật lưu lại mà người tù chính trị đã làm nên những kỳ tích lớn lao trong một nhà tù khổng lồ và khắc nghiệt có một không hai ở xứ Đông Dương. Đứng trước một di tích lịch sử chuồng Cọp, Chuồng Bò, xà lim, hầm đá hay một nghĩa trang liệt sỹ Hàng Dương, Hàng Keo với vô  số nấm mộ có tên và không tên thì không ai có thể dửng dưng trước nền độc lập của dân tộc và máu xương của các thế hệ tiền bối. CĐ đã và đang thực sự trở thành một trường học lớn cho thế hệ hôm nay và mai sau.

 

Côn Đảo Nguồn Gốc các địa danh

SỰ TÍCH NÚI CHÚA

Núi Chúa cao 515m, nằm ở khu vực trung tâm đảo lớn sừng sững nhu bức tường thành che chắn phía tây bắc cho thị trấn Côn Sơn. Chưa phải là ngọn núi cao nhất (núi An Hải cao 575m) nhưng núi Chúa gắn liên với truyền thuyết thời chúa Nguyễn Ánh bôn tẩu ra Côn Đảo. Năm 1883, bị quan Tây Sơn đánh cho đại bại ở cửa Cần Giờ, Nguyễn Ánh chạy dạt ra Côn Đảo. Sợ vía quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh leo tuốt lên núi ở, buộc quân sỹ phục dịch rất khổ sở. Chẳng bao lâu, chuyến thuyền quân Tây Sơn đuổi đến, Nguyễn Ánh tháo chạy ra đảo Thổ Chu, bỏ lại hàng trăm thân quyến, trong đó có vị cận thần và bà thứ phi đã dám đứng ra khuyên can Ánh đừng nên cõng rắn cắn gà nhà. Ngọn núi được mang tên núi Chúa như một địa danh chúa ngự, vừa hàm ý chê cười chúa Nguyễn Ánh tham vọng lớn mà khí phách, can trường chẳng có được bao nhiêu. Trên núi còn dấu tích một bàn cờ khắc trên đá, vừa tầm 2 người ngồi chơi, tục truyền do quân sỹ tạo dựng làm nơi vui chơi cho Chúa. Năm 16962, chúa đảo Lê Văn Thể cho quân truy tìm, sửa sang lại bàn cờ, chuẩn bị rước Tổng Thống ngụy Ngô Đình Diệm ra thăm vào dịp lễ Nôen năm ấy, nhưng cuộc đón tiếp của thiếu tá Thể không thành, Ngô Đình Diệm bãi bỏ chuyến đi vì phong trào cách mạng miền Nam đang tiến công mạnh mẽ.

 

SỰ TÍCH HÒN BÀ

Hòn Bà nằm kế hòn lớn Côn Đảo, cách nhau một doi nước hẹp gọi là Họng Đầm tạo hợp với hòn Côn Đảo thành Vịnh Bến Đầm, nước sâu, kín gió, có thể xây dựng thành hải cảng rất tốt. Hòn Bà rộng hơn 5km2, trên đỉnh có một tảng đá dựng tựa hình vọng phu, có người nói rằng vì thế mà có tên Hòn Bà. Một cách giải thích khác cho rằng Hòn Bà do chữ Bến Đầm, họng Đầm (tiếng Pháp: Dame là Bà, phụ nữ) mà ra. Những người dân Côn Đảo có cách giải thích riêng gắn với truyền thuyết về bà. Bà thứ phi của Nguyễn Ánh tên tục Nguyễn Thị Răm, được tôn là Bà Phi Yến. Biết Nguyễn Ánh định gửi Hoàng Tử Cảnh làm con tin để cầu viện binh Pháp, chống quân Tây Sơn, Bà đã lựa lời khuyên:

Việc chúa công đánh nhau với Tây Sơn nên mộ binh trong xứ. Nếu nhờ ngoại viện, có thắng cũng chẳng vẻ vang gì, mà thiếp e có nhiều chuyện rắc rối về sau. Nổi giận vì trái ý,  Ánh ghép Bà vào tội thông đồng với Tây Sơn. Nhờ các cận thận can gián, Bà khỏi tội chém, nhưng bị giam vào hang núi trên hòn đảo nhỏ, nay mang tên Hòn Bà. Trước hang đá có nhiều hòn lớn chắn ngang, bà không ra được, trong hang chỉ có một ít bánh dầy và một chum nước lã vừa đủ sống chừng nửa tháng. Tại đó có con vượn bạch là một con vật hết sức khôn ngoan và trung thành luôn luôn ở cạnh để hầu hạ bà.

Vừa nhốt xong bà Phi Yến, bỗng nghe tin có  quân Tây Sơn đuổi tới nơi, Ánh cùng đám cận thần lên thuyền chạy qua Phú Quốc. Theo với đám người tuôn chạy có con hắc hổ của hoàng tử Cải, nó rất mến hoàng tử. Hoàng tử Cải không thấy Mẹ, khóc lóc thảm thiết và yêu cầu cha: “Một là cho hoàng mẫu cùng theo, hai là được ở lại sống chết với mẹ” Nguyễn Ánh dứt tình cho rằng hoàng tử đồng lòng phản trắc với mẹ nên sai quẳng cậu bé vô tội xuống biển. Khi thấy hoàng tử rớt xuống biển, con hắc hổ vội vàng phóng theo, nhưng cọp đen có thể lội nước vào bãi cạn dễ dàng, còn hoàng tử Hội An mới có 8 tuổi đành phải chịu chết chìm. Xác cậu trôi dạt  vào Cỏ Ống, được dân làng an táng và lập miếu thờ. Còn con hắc hổ ngày đêm nằm bên nấm mồ của hoàng tử. Dân làng Cỏ Ống thấy con vật mà ăn ở có nghĩa như vậy nên cũng động lòng bèn họp nhau cào đất chất đá cho nấm mồ cao thêm lên rồi lập miếu thờ. Miếu ấy được gọi về sau là Miếu Cậu

Một hôm không rõ đây là tình cờ hay do một sự huyền bí nào đó mà cọp đen lại gặp vượn trắng. không biết nói, vượn bạch đã tỏ dấu và nó hướng dẫn con hắc hổ qua tận bên hòn đảo (tức Hòn Bà ngày nay) để được gặp bà Phi Yến đang bị giam cầm trong một động đá. Sau mấy chập mừng mừng tủi tủi, con hắc hổ và vượn bạch ra dấu hiệu như bảo bà cùng đi theo, bà gượng sức leo lên lưng cọp cho nó cõng đi. Hơn nửa ngày vượt suối qua đèo vất vả lắm mới qua được tới ven rừng Cỏ Ống. Khi tới trước mồ của hoàng tử, hai con vật dừng chân lại, nhìn nấm mồ mới đắp và lúc đó bà mới hiểu rằng con mình đã lìa đời. Song bà chưa rõ nguyên nhân tại sao. Dân làng Cỏ Ống hay tin kéo tới rất đông, kể cho bà nghe mọi chuyện. Sau đó, dân làng bèn xúm nhau lại làm một ngôi nhà khá đẹp ở ngay bên cạnh mả Cậu để bà được trực tiếp sớm hôm chăm sóc ngôi mộ đứa con vô phúc của mình. Thời bấy giờ có câu hát lịch sử:

“Gió đưa cây cải về trời

Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”

Cũng trong thời gian này, Bà Phi Yến có sáng tác một bài thơ được truyền miệng cho đến hôm nay

“Đốt nén hương thề tạ Chúa công

Can vua nên nỗi tội thông đồng

Ngai vàng một thưở ngồi chưa vững

Bia đá nghìn năm vết vẫn còn

Máu chảy ruột mềm đau phận thiếp

Nồi da xáo thịt thỏa lòng ông

Sông sâu, núi thẳm, hoa mờ lệ

Đã khóc cho con lại khóc chồng”

 

MIẾU BÀ VÀ ĐỀN AN HẢI

Ở gần Họng Đầm, đối diện với Hòn Bà, có ngôi Miếu Bà dựng lên  để ghi lại công người phụ nữ can đảm dám can chúa Nguyễn Ánh đừng “cõng rắn cắn gà nhà”. Sau khi Phi Yến chết, ngôi đền thờ Bà được dựng lên tại làng An Hải, gần thị trấn Côn Đảo. Việc xây ngôi đền thờ Bà tại làng An Hải có một lý do lịch sử.

Rằm tháng 7 năm Ất Hợi  (1785) bên hương chức làng An Hải cử đại diện qua làng Cỏ Ống để thỉnh bà về dự lễ xá tội vong nhân. Buổi lễ kéo dài đến khuya , sau đó Bà nghỉ đêm trong nhà việc tại làng An Hải để ngày hôm sau về Cỏ Ống. Năm ấy Bà 24 tuổi , dung nhan còn lộng lẫy. Trong làng có tên đồ tể tên là Biện Thi đem lòng tà dục, mò vào cấm phòng nắm lấy tay Bà. Nghe tiếng Bà tri hô, dân làng kéo đến đóng gông tên Biện Thi chờ ngày xử tội. Theo luân lý xưa không đợi gì có cưỡng bức mới gọi là thất tiết, chỉ cần nắm tay, động tới tà áo coi như bị xâm phạm tiết hạnh rồi. Bà Phi Yến bấy lâu nay tuy dứt tình, vẫn giữ vẹn mình trong sạch, bởi thế bà tự mình chặt đứt cánh tay ấy và nhờ một bà lão đem chôn ở một nơi riêng biệt. Nhưng vẫn chưa thấy hết tủi nhục trong lòng Bà đã quyên sinh giữ vẹn danh tiết.

Khi tin chẳng lành này được lan truyền, toàn thể dân làng Cỏ Ống phẩn uất chẳng khác nào lửa đổ thêm dầu; với đủ thứ gậy gộc, giáo mác, kéo sang làng An Hải buộc dân làng An Hải phải làm thế nào cho bà sống lại, bằng không họ sẽ tiêu diệt cả làng. Do sự dàn xếp khôn khéo của quan Hải Trấn, dân làng Cỏ Ống dần dần bớt cơn thịnh nộ. khi đó quan Hải Trấn đưa ra giải pháp dung hòa như sau: Làng An Hải làm heo tạ lỗi và giải nộp tên Biện Thi cho làng Cỏ Ống được toàn quyền định đoạt.

Số phận đã an bài cho bà nằm xuống tại làng An Hải nên cũng theo ý trời để thi hài bà lại cho làng An Hải lo việc tống táng và lập miếu thờ. Hàng năm cúng bái có sự tham dự của các giới chức và dân làng Cỏ Ống.

Sau khi tống táng thi hài bà, một cuộc hành quyết diễn ra tại làng Cỏ Ống. Tên Biện Thi phải đền tội bằng cách xử bá đao, mỗi người dân Cỏ Ống đều cầm dao xẻo một miếng thịt của tên tội phạm.

Về sau người ta truyền rằng Bà Phi Yến và hoàng tử Hội An đã hiển thánh thường hiện hình về mách bảo cho dân làng biết điềm lành hay chuyện dữ sắp xảy ra.

Bà đã nêu cao tấm gương ái quốc và sáng suốt nhận định được quốc vận hậu lai. Trước cảnh búa rìu sấm sé của một ông chúa độc đoán, bà vẫn cương quyết chống trả không chịu đồng lõa những hành động có tội với lịch sử. Đến như hoàng tử Hội An tuy mới vừa lên 8 tuổi cũng đã tỏ ra là đứa con chí hiếu, thà chịu chết với mẹ hiền còn hơn ham sống với một người cha độc ác. Người xưa đã có 4 câu thơ để tặng:

“Lòng đất chôn sâu niềm uất hận

Lưng trời đeo mãi vết tang thương

Thương người cương trực liều thân thể

Trách kẻ tà tây dạ khó lường”

Từ khi Pháp chiếm Côn Đảo lập nhà tù, thường dân bị đưa vào đất liền. Ngôi đền cổ uy nghi đã hoang tàn, xiêu vẹo. Năm 1958, những công chức trên đảo đã xin phép nhà cầm quyền, quyên góp tiền bạc và huy động sức tù xây lại ngôi đền trên vị trí của tòa miếu cổ. Bài vị thờ Bà đặt tại ngôi chính điện, với đôi câu đối:

“MẪU NGHI XƯNG HẬU ẤM CÔN BANG – THÁNH ĐẮC PHỐI THIÊN AN HẢI QUỐC”

Hai bên tả – hữu hoàng tử Cải và quan đô đốc Ngọc Lâm, người đã can gián chúa Nguyễn xin Bà khỏi tội chết khi Ánh ghép Bà vào tội thông đồng với Tây Sơn. Trên hàng cột trước cửa đền được khắc nổi câu đối của một tù chính trị để tặng người nữ trung hào kiệt:

“TRUNG NGHĨA GIÁN QUÂN THIÊN CỔ CHIẾU – TIẾT HẠNH QUYÊN SINH VẠN ĐẠI TRUYỀN”

 

SỰ TÍCH HÒN CAU VÀ BÃI ĐẦM TRẦU

Thưở xưa Làng Cỏ Ống có chàng Trúc Văn cau  thông minh tháo vát, con ông Cau và bà Tranh, cùng lứa với cô Mai Thị Trầu, con ông Đinh, bà Bèo, một thiếu nữ duyên dáng, thạo nghiệp bút nghiêng. Trai tài gái sắc, đôi bên đem lòng cảm mến. Một lần tình cờ gặp gỡ bên dòng suối vắng, chàng trai đã mượn câu ca dao ướm thử lòng người xuân nữ: “Tiện đây anh mới hỏi nàng. Cau tươi ăn với trầu vàng xứng không?’ Người con gái vốn thông minh đã đáp lại bằng một câu ca dao hợp tình, hợp cảnh:”Mai vàng chen với trúc xanh. Duyên em sánh với tình anh tyệt vời”, Biết rõ lòng nhau, chàng Cau ngỏ lời xin cha cưới nàng làm vợ, ông Câu nghe nói rụng rời tay chân, bèn bộc lộ cho con biết, nàng Trầu chính là kết quả mối tình vụng trộm giữa ông Câu với bà Bèo thời trai trẻ. Chàng Cau bàng hoàng như sét đánh ngang tai vì trong lúc quá yêu, chàng đã trót hái “trái cấm” nơi đứa em cùng cha khác mẹ. Trúc Văn Cau ôm hận thả bè qua một thung lũng hoang vắng trên hòn đảo cách xa làng hơn 10 dặm , ẩn dật ở đấy cho đến chết. Người đời đặt tên đảo là Hòn Cau. Nơi chàng nằm xuống sau mọc lên một rừng cau xanh tốt quanh năm, mùa trái chín đỏ rực.

Nàng Trầu đau đớn, ngày ngày ra ngóng nơi vách đá khi xưa thường hò hẹn. Khi thấy thai nhi đã lớn , cũng là lúc nàng biết chuyện tình buồn của cha mẹ, và hiểu rằng chàng Cau không bao giờ về nữa. Hoàn toàn tuyệt vọng, nàng gieo mình xuống nước. Nơi nàng tự vận, nay mang tên là bãi Đầm Trầu. Cảm thương đôi bạn trẻ chết vì mối tình oan nghiệt, dân làng Cỏ Ống đã đặt câu ca: Ai về nhắn gởi ông Câu – Hòn Cau cách bãi Đầm Trầm bao xa?’ Bãi Đầm Trầu là nơi phong cảnh tuyệt đẹp. Bờ cát mịn trải dài dưới chân vách đá dựng muôn hình. Trên một triền đá vươn ra tận biển nổi lên 2 tảng đá lớn, chụm đầu vào nhau như đôi bạn đang trò chơi chuyện mải mê, quên hết thời gian, năm tháng. Đặc biệt là nước biển ở đây trong và xanh hơn bất cứ nơi nào. Sắc xanh một khoảng trời, một cánh rừng đổ bóng, hòa vào màu xanh trong của biển trời nơi ấy.

Sau chuyện tình bi đát ấy xảy ra, ông Câu thấy lương tâm bị cắn rứt phải bỏ làng Cỏ Ống lánh sang một bãi bên sau núi Chúa mà ở, sau này ông qua đời người ta gọi nơi ấy là bãi Ông Câu. Đồng thời bà Bèo cũng không sống nỗi với tiếng bấc tiếng chì trong cảnh gia đình xào xáo nên bà phải bỏ nhà vô tận trong bưng để sống độc thân, nơi ấy sau này gọi là bưng Bà Bèo. Về phần ông Đinh cũng chẳng kém gì. Quá buồn do chuyện vợ con, ông vào tu trong một hốc núi bên cạnh con đường qua nhà người anh cả là Ông Cường. Do đó sau này mới có tên là bãi ông Cường và hốc ông Đinh.

Riêng bà Tranh (vợ ông Câu) rất thương chồng và nhớ con song không tội gì phải bỏ đi đâu. Bà vẫn ở trong ngôi nhà cũ. Vì không có người thừa tự sau khi bà mất, dân trong ấp được chia nhau thừa hưởng hoa lợi trong khu vườn cây trái của bà. Để nhớ ơn bà, dân trong ấp lấy tên bà đặt tên ấp. Từ đó, nơi đây được mệnh danh là ấp Trảng Tranh. Đến ngày nay dân làng Cỏ Ống vẫn còn truyền miệng câu thơ diễn tả nỗi niềm bi đát của mối tình ngang trái giữa chàng Cau và nàng Trầu

“Đi đâu mà chẳng thấy về

Hay là quần tía dựa kề áo nâu

Ai về nhắn với ông Câu

Hòn Cau cách bãi Đầm Trầu bao xa”

 

HÒN TRÁC – HÒN TÀI

Phía trước thị trấn Côn Đảo, từ mũi Cá Mập, một chuỗi đảo nhỏ nằm gần nhau, mang tên Hòn Trác lớn, hòn Trác nhỏ, hòn Tài lớn, hòn Tài nhỏ. Người xưa gọi nhóm đảo này là hòn huynh đệ. Chuyện kể rằng có 2 anh em sinh đôi là Đặng Phong Tài và Đặng Trác Vân, giống nhau như đúc. Đặng Phong Tài bị biệt xứ ra đảo từ thời Minh Mạng, được vị hương cả làng An Hải mến mộ tài đức, gả cho người con gái yêu là Đào Minh Nguyệt. Hai vợ chồng sống rất hạnh phúc trong ấp An Hội. Nàng Minh Nguyệt có nhan sắc, nết na, trai làng thường gọi là nàng Tiên An Hội.

Ít lâu sau, Đặng Trác Vân, ngườ em sinh đôi với Phong Tài cũng bị biệt xứ ra đảo, được người anh và chị dâu đón về ở cùng nhà. Lạ thay 2 anh em giống nhau như hai giọt nước. Tình cờ, một lần Trác Vân đi đốn củi về sớm, người chị dâu ngỡ là chồng về, săn sóc ân cần và tặng một nụ hôn nồng ấm. Trác Vân đứng nghiêm như pho tượng một hồi rồi xin chị thứ lỗi. Nàng tiên An Hội ngẩn người bối rối và xin người em giữ kín sự nhầm lẫn này.

Oái ăm thay, một lần khác, Phong Tài có việc đi qua làng Cỏ Ống, không hiểu vô tình hay hữu ý mà nàng Tiên An Hội lại đặt nhầm nụ hôn tình tứ cho người em. Nhưng giống như lần trước Trác Vân sụp lạy chị , xin giữ trọn đạo đệ huynh..

E ngại ẩn tình của chị dâu, Trác Vân đã bỏ nhà, kết bè qua một hòn đảo nhỏ cốt ngăn ngừa phút giây sa ngã, trái đạo luân thường. Khi Phong Tài trở về, biết chuyện bèn lặn lội đi tìm em. Hai anh em không gặp được nhau và mỗi người đã bỏ mình trên một hòn đảo, hai hòn đảo ấy sau được mang tên hòn Trác – hòn Tài, còn gọi là Hòn Huynh Đệ.

Thảm thương thay cho số phận của nàng Minh Nguyệt giữa lúc tình nồng duyên thắm nàng phải sống với cuộc đời cô độc quạnh hiu, trong những chuỗi ngày sầu thương chiếc bóng còn gì não lòng hơn cái tuổi xuân tàn tạ mỏi mòn khiến nàng:

Thổn thức tình xuân, vồ chín khúc

Ngẩn ngơ hồn điệp xót năm canh

Khóc mưa thu tiếng cuốc mỏi mòn…

Sầu nắng hạ mình ve khô héo

 

Dân gian còn lưu truyền câu ca về mối tình éo le và tấm lòng kết nghĩa giữa Minh Nguyệt – Phong Tài và TrácVân:

Ai qua hòn Trác hòn Tài

Cho em xin gởi một vài câu thơ:

Đêm khuya gió lạnh sao mờ

Trăng khuya chênh chếch bóng vẫn chờ đợi mây

Bao giờ núi Chúa hết cây

Sông mê hết nước, dạ này hết thương

Xuyên qua cuộc tình bộ ba của hai anh em nhà học Đặng và cô Đào Minh Nguyệt ta thấy: trong tên họ ông Tài có chữ Phong (là gió) đệm ở giữa thành ra Đặng Phong Tài. Kế đó tên cậu Trác có chữ Vân (là mây) nối bên sau gọi là Đặng Trác Vân. Tên vợ của ông Tài là Đào Minh Nguyệt (có nghĩa là mảnh trăng trong chiếu tỏa khắp phương trời)..

 

NHÀ TÙ CÔN ĐẢO

 

Nằm trên trục giao lưu Đông – Tây, tàu buôn các nước Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp… đã viếng thăm Côn Đảo từ thế kỷ XIII. Hai công ty Đông Ấn của Anh và của Pháp nhiều lần cho người lên đảo nghiên cứu địa thế, vẽ bản đồ. Năm 1702, Allen Catchpote, giám đốc công ty Đông Ấn của Anh đích thân chỉ huy cuộc đổ quân chiếm Côn Đảo. Hắn mộ lính người Macasca (thổ dân đảo Sulavedi theca Indosinea) xây pháo đài và canh giữ. Chúa Nguyễn đưa người ra đảo, làm kế trá hàng rồi cùng đội lính Macasca làm binh biến, đánh đuổi thực dân Anh thu lại chủ quyền, lãnh thổ xứ Đàng Trong  (1705).

Thất bại của người Anh tiếp tục nuôi dưỡng cho ý đồ của thực dân Pháp. Ngày 28 tháng 11 năm 1861, trung úy Lespès đã được lệnh của đô đốc Bonard, đưa chiến hạm Nogagaray tới đánh chiếm Côn Đảo. Nhà tù Côn Đảo được thiết lập theo nghị định 1/12/1862 của đô đốc Bonard để giam giữ những tội nhân mang án từ 1 đến 10 năm. Phó trạm trưởng Félix Roussel được chỉ định làm chỉ huy trưởng quần đảo kiêm quản đốc đầu tiên của nhà tù Côn Đảo.

Ngày 31/01/1873 thống đốc Nam Kỳ Dupré ra nghị định ban hành quy chế riêng cho đề lao Côn Đảo. Sau nhiều lần thi hành bổ sung và sửa đổi, bản quy chế hoàn chỉnh nhất, gồm 20 chương, 109 điều ban hành vào ngày 17/05/1916, được áp dụng cho đến ngày cáo chung của thực dân Pháp trên bán đảo Đông Dương.

Trong hơn nửa thế kỷ, nhà tù Côn Đảo chỉ có 1 trại giam (Bagne No.1) với nguồn tài chính bổ sung từ ngân sách Liên Bang (Đông Dương), Banh II được khở công từ 1917 và đưa vào sử dụng 1928. Banh III tiếp tục được xây dựng  và sử dụng 1939. Banh phụ của Banh III cùng hai dãy chuồng cọp sử dụng từ 1944.

Năm 1955, thiếu tá Aloise Blanck bàn giao lại nhà tù này cho ngụy quyền Sài Gòn, chấm dứt gần một thế kỷ tội ác của thực dân Pháp trên quần đảo. Trong 20 năm 1954 – 1975), Mỹ Ngụy đã tăng quy mô từ 4 trại lên 8 trại. Trại V xây dựng 1962. Trại VI, trại VII và trại VIII xây dựng gần như cùng một lúc, vào năm 1968, hoàn thành cơ bản cuối năm 1970. Ba trại này được ngân sách MACCORD (chương trình viện trợ quân sự và kinh tế của Mỹ) chi tiền, chuyên gia xây cất nhà tù của Mỹ thiết kế và hãng thầu Mỹ RMK – BRJ xây cất. Trại IX, trại X cũng đã được đổ móng, đúc cột rồi bỏ dở khi hãng RMK – BRJ rút khỏi Việt Nam (1972).

 

NHÀ CHÚA ĐẢO

 

Được xây dựng trong một khuôn viên rộng gần 2ha, ở khu vực trung tâm thị trấn, cổng nhìn thẳng ra Cầu Tàu. Đây là nơi ở và làm việc của 53 đời chúa đảo. Đối với người tù cũng như toàn bộ viên chức , giám đốc (có lúc gọi là quản đốc) thật sự là chúa đảo. Theo quy chế giám đốc “toàn quyền đối với các nhân viên chức trách và tù nhân trên đảo; đích thân trông coi việc làm của tù nhân, chịu trách nhiệm về những biện pháp cần thiết để đảm bảo an ninh các trại giam và đưa tù nhân vào vòng kỷ luật”

Vì thế tù nhân thường gọi giám đốc là Ông Lớn, Chúa Đảo; gọi nơi ở của giám đốc là Dinh Ông Lớn, nhà Chúa Đảo – nơi tập trung cao nhất quyền lực trên đảo cả về hành chính, tư pháp và quân sự. Đồng thời đây cũng là nơi xuất phát âm mưu thủ đoạn cai trị tù nhân, trung tâm chỉ huy các cuộc đàn áp quy mô toàn đảo. Tên chúa đảo đầu tiên là tên Félix Rousseel, trung úy, phó hạm trưởng hải quân Pháp.

Có nhiều tên chúa đảo mà sự tàn bạo của chúng  đồng nghĩa với chế độ giết người ở đây. Andouard là một trong số đó,

Báo Chí Nam Kỳ lúc đó đã đưa tít đậm Tên đao phủ ở Côn Lôn với những lời xỉ vả thậm tệ vì chính hắn đã xả súng máy giết hại 83 người tù chung thân tại góc sân Banh I (14/02/1918), trong số đó có những ngưởi tù không dính dáng gì đến cuộc nổi dậy, trong tay không có một tấc vũ khí.

Người kế tục được nhiều chất tàn bạo của những tên chúa ngục kiểu  Andouard lả Bouvier, làm chúa đảo trong 15 năm (1927 – 1942). Trong vòng 5 năm (1930 – 1934) chế độ khủng bố thởi Bouvier đã giết hại 802 người tù. Báo Thần Trung hồi ấy đã gọi Côn Lôn là “Địa ngục trền gian” dưới “chế độ giết người Bouvier”

Nguyễn Văn Vệ  là tên chúa ngục  điển hình chi sự tàn bạo và thâm độc thời Mỹ ngụy (1965 – 1974). Trong ký ức của hàng ngàn tù nhân. Nguyễn Văn Vệ là “con hùm xám” là “siêu đẳng” trong nghề rị tù. Vệ từng ngự trị chín năm, 2 nhiệm kỳ tại nhà tù Côn Đảo, thiết lập độ kỷ luật nghiệt ngã nhất ở Chuồng Cọp: sào nhọn bịt đồng, vôi bột, gậy gộc và đạo quân trật tự an ninh do Vệ tổ chức đã gây hiều tội ác man rợ mà vụ “Chuồng Cọp Côn Đảo” năm 1970 đã lảm chấn động lương tri loài người.

Xét đến cùng, mỗi đời chúa ngục chỉ là những tên  tay sai trung thành với mức độ khác nhau của bọn thực dân, đế quốc. Với bản năng riêng, mỗi tên lại có cách riêng để ghi dấu ấn tội ác đối với dân tộc ta, trong hơn 1 thế kỷ đau thương khi chúng dựng lên “Địa ngục trần gian” trên Côn Đảo. Nhà chúa đảo là nơi chứng kiến những thủ đoạn cai trị cùng tội ác man rợ của chúng.

CẦU TÀU

Cầu Tàu được khởi công xây dựng  năm 1873, với phác thảo dài 107m, tư2 mép lộ trước cổng dinh chúa đảo lao thẳng ra vịnh Côn Sơn. Có người từng gọi Cầu Tàu bằng danh số 871; 914, 915 để tưởng nhớ số người đã chết trong lúc xây dựng cầu tàu. Những con số đó ít nhiều mang tính ước lệ.

Dấu ấn sâu lắng nhất đọng lại di tích lịch sử này trong hơn 1 thế kỷ qua chính là những phiến đá ngổn ngang, sắp lớp. Những tảng đá lớn hàng thước khối, nặng nhiều tấn kia đã làm kiệt quệ và đè nát bao nhiêu thân tù khi họ xeo chúng tù núi Chúa về đây. Không xeo được thì chết vì đòn, xeo được thì chết vì kiệt sức. Cái thời đau thương ấy như còn âm vang trong từng phiến đá và câu ca trường hận của tù nhân: “Côn Lôn ơi, viên đá mạng người…”

Không ai biết một cách chính xác bao nhiêu người bị núi lở, đá đè, hoặc chết vì kiệt sức đòn roi khi chuyển đá, khi làm Cầu Tàu và kè đá dọc con đường  ven biển. Cầu Tàu là nơi ghi dấu bước chân lưu đày đầu tiên của hàng chục vạn người tù trên hòn đảo này, với tất cả nỗi tủi nhục của trận đòn phủ đầu từ Cầu Tàu về trại giam. Hàng vạn người chỉ một lần đặt chân lên đây rồi vĩnh viễn nằm lại Hàng Keo, Hàng Dương, Cỏ Ống, Hòn Cau…

Cầu Tàu còn là một đầu mối liên lạc quan trọng giũa tù chính trị Côn Đảo với Đảng Xã Hội, Đảng Cộng Sản Pháp với Xứ Ủy Nam Kỳ, Ủy Ban Kháng Chiến Hành Chính Nam Bộ và Thành Ủy Sài Gòn – Gia Định. Sách lý luận, kinh điển Mác – Lênin, sách văn học, báo chí tiến bộ, nghị quyết của Quốc Tế Cộng Sản của Trung Ương Đảng ta cùng thư từ, chỉ thị của xứ ủy…đã đến với người tù qua Cầu Tàu này.

Cầu Tàu từng rợp bóng cờ đỏ sao vàng những ngày Cách Mạng Tháng 8 (1945) thành công ở Côn Đảo. Trên 2.000 tù chính trị đã từ đây trở về đất liền tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ và anh dũng. Một số người đã trở thành những đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà Nước ta trong nhiều năm qua. Cuối năm 1954, thực dân Pháp cũng phải đưa gần 600 tù binh và trên 1.000 tù án qua Cầu Tàu về trao trả lại cho chính phủ Hồ Chí Minh. Ngày 1/5/1975 tù chính trị Côn Đảo đã chớp thời cơ, nổi dậy làm chủ hoàn toàn Côn Đảo.

Ngày 4/5/1975 trên chyến tàu đầu tiên ra giải phóng Côn Đảo, 500 tấm ảnh Bác Hồ in lụa đã chuyển tới Cầu Tàu và được những người tù trang trọng rước về từng trại. Ít ngày sau, từng đoàn tù lần lượt tập trung ra Cầu Tàu để xuống tàu về đất liền, chấm dứt vĩnh viễn hơn một thế kỷ :Địa ngục trần gian” nơi Côn Đảo.

 

CẦU MA THIÊN LÃNH

Khoảng năm 1930, thực dân pháp mở con đường từ ngã ba núi Chúa qua đèo Ông Đụng để đến sở Ông Câu. Sở Ông Câu nằm phía sau núi Chúa từ những năm 1930 thực dân Pháp bắt tù nhân leo lên những triền núi cao, đốn cây lớn rồi thả xuống mé biển theo những đường mòn. Nhiều người đã bị cây đè chết hoặc nát chân nát tay vì không tránh kịp những cây gỗ lớn từ trên núi lao xuống.

Khi mở con đường nay bọn chúa ngục bắt tù nhân vác đá xây trên đèo Ông Đụng một cây cầu. Do địa thế núi cheo leo hiểm trở, tù nhân ăn uống thiếu thốn đói khát phải khiêng đá xây mố cầu bị chết hại trước sau tới 356 người mà vẫn chưa làm xong nỗi. Cách Mạng Tháng Tám thành công công trình bị bỏ dỡ dang (2 mố cầu).

Cái tên Ma Thiên Lãnh để gọi hai mố cầu đắp dang dở bằng máu sương của 356 con người, có lẻ do địa thế núi hiểm ác nước suối lại rất độc, quá trình tù nhân làm khổ sai còn bị đá đè cây đổ..v..v.. từ đó tù nhân mới lấy tên ngọn núi Ma Thiên Lãnh ở Triều Tiên địa thế hiểm ác khó lên xuống, phỏng theo truyện tàu:” Tiết Nhơn Quí Chinh Đông” xưa đặt tên cho cầu này.

Thời ấy để tố cáo chế độ thực dân pháp đày ãi tù nhân làm khổ sai cực kỳ dã mang tù nhân còn sáng tác bài hát: Cầu Ma Thiên Lãnh.

   “Ai bước qua, ai bước qua Cầu Ma Thiên Lãnh

Hãy dừng chân ngắm cảnh quốc hờn

Do quân thù tàn bạo gây nên

Ai đã trong mà lòng không hờn

Ai nghe đến mà lòng không căm giặc pháp

Quân pháp kia, quân pháp kia là loài tham tàn.

Gây oán thù vạn thuở khôn nguôi

Mau đứng lên mau đứng lên người dân yêu nước.

Giết thù chung dắt dìu giống nòi

Ra khỏi cảnh bùn lây điêu linh

Bao máu sương bao máu sương trong lao tù còn gây oán hờn, gây mối thù vạn thuở khôn nguôi.”

 

DI TÍCH BIỆT LẬP CHUỒNG BÒ

Chuồng bò là một sở tù nuôi bò thịt, bò sữa, dê, ngựa, heo, gà vịt, bồ câu, có lúc kiêm việc làm rẫy với tên gọi kép mà trước đây thường gọi là sở rẫy – chuồng bò, sở củi – chuồng bò. Nhưng người ta gọi tắt là Chuồng Bò.

Chuồng Bò có một trại giam phụ, xây khá chắc chắn vào năm 1930, trên khu đất rộng 4110 m2 làm nơi tạm giam số tù nhân làm ở sở này. Cạnh đó còn có 24 hộc để nuôi chứa heo nên có người còn gọi là Chuồng Heo, đối diện có hai chuồng nuôi bò cùng với một hầm chứa phân và nước thải từ chuồng nuôi bò cũng được xây khá kiên cố.

Sang thời Mỹ Ngụy khoảng cuối năm 1969 địch đã đưa tù chính trị chống chào cờ bị còng xiềng cầm cố lâu ngày, bị teo cơ bại liệt cả hai chân về giam ở đây.

Sau khi chuồng cọp bị phát hiện Chuồng Bò được gấp rút sửa chửa dẹp bỏ 24 hộc chứa heo và xây dựng lại gồm 3 khu A< B< C, tổng cộng có 33 phòng biệt giam.

Chuồng bò lúc bấy giờ là một chi nhánh trực thuộc trại IV biệt lập dưới quyền của tên giám thị ác ông Lê Văn Khương phụ trách.

Phát huy truyền thống đấu tranh kiên cường, lưc lượng tù bại liệt tiếp tục đấu tranh, chống chào cờ, chống nội quy khắc nghiệt của nhà tù. Họ đã bị đánh đập bỏ đói bỏ khát và không được ăn rau trong nhiều tháng.

Từ năm 1973 Chuồng Bò là văn phòng của tiểu ban điều tra khai thác thuộc ban chuyên môn những người tù bị lộ mặt trong hoạt động đấu tranh bị đưa về đây để khai thác. Ban chuyên môn áp dụng nhiều hình thức điều tra tàn bạo như : đánh đập bằng củi giòn, nẹp hai thanh tre vào ống chân. ..v..v… nhiều tù nhân đã bị bại liệt tàn phế bởi đoàn tra tấn và chế độ đày ải dã mang ở chuồng bò. Đây cũng là trại giam được mở cửa giải phóng sau cùng trong ngày 1/5/1975 (08h30 sáng)

HẦM PHÂN BÒ : theo lời kể của một số cựu tù chính trị côn đảo thời mỹ ngụy : “ngày giải phóng nhà tù côn đảo 1/5/1975 đã phát hiện còn hai người tù bị phạt ngâm mình trong hầm phân” sự kiện này đã được ban quản lý di tích lịch sử cách mạng côn đảo và các nhà nghiên cứu lịch sử nhà tù côn đảo tiến hành sưu tầm tư liệu và nhân chứng cũng như bằng chứng cụ thể.

 

DI TÍCH : TRẠI VII” CHUỒNG CỌP KIỂU MỸ

Tổng diện tích :25.788m2 tên gọi đầu tiên là trại VII, sau đó gọi là Trại Phú Bình. bao gồm 04 khu AB,CD,EF, GH.mỗi khu có hai dãy, mỗi dãy có 48 phòng bịêt lập, trên có song sắt tương tự như chuồng cọp pháp nhưng không có hành lang bên trên thay vào đó là mái tôn rất thấp, trời hắt xuống như thêu như đốt .dưới thì không có xây bệ ,tù nhân nằm dưới nền nhà hứng chịu khí ẩm uớt, khí đất xông lên khi chuyển về khuya tù nhân phải tiểu tiện vào thùng gỗ, mỗi khi tù nhân đấu tranh chúng phạt không cho đổ thùng vệ sinh ,03 hôm-5 hôm, một tuần lễ hoặc lâu hơn nữa…phân và nước tiểu bê bết trên mình của 8-10 người tù trong một vùng biệt giam chưa đuợc 5m2 khi ấy nhà giam đã biến thành nhà cầu sống trong cảnh ấy ngày này qua ngày khác thì chẳng khác nào sống trong địa ngục chưa kể buổi trưa nắng nóng trêu đốt cùng với mùi ô uế xông lên ,bọn phục vụ mở cánh cửa sắt ra kiểm tra rồi đóng dập lại thật mạnh, tiếng kêu dội lên đinh tai nhức óc khi chúng lần lượt kiểm tra 48 phòng giam trong một dãy và liên tiếp 8 dãy với 384 lần dội vào đầu, vào lồng ngực của tù nhân.

Đúng là một trại giam điển hình kiểu mỹ, do chuyên gia mỹ thiết kế thầu Mỹ xây dựng (hãng thầu RMK) bằng đôla Mỹ viện trợ. Đây là trại giam khắc nghiệt nhất trong giai đoạn cuối cùng của nhà ngục này Mỹ ngụy dùng cả yếu tố bất lợi của thiên nhiên vào việt đày ải con người. Chưa cần đến đòn roi chuồng cọp mỹ đã hành hạ người tù rất tinh vi, chết dần chết mòn bởi lối kiến trúc Mỹ nên còn được gọi là “chuồng cọp kiểu Mỹ” cùng với trại VI khu B, trại VII là nơi tập trung số tù chính trị chống đối, trở thành trung tâm phong trào đấu tranh của tù chính trị côn đảo trong giai đoạn này.

Đây là nơi khở đầu và trung tâm chỉ đạo cuộc nổi dậy giải phóng côn đảo, khi nghe tin tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng Ngụy Quân Ngụy Quyền Côn Đảo hoang mang tháo chạy, những người tù ở trại VII đã quyết định hành động chóp thời cơ giải phóng vào lúc1h00 sáng ngày 1/5/1975 tù nhân ở trại phú bình đã hoàn toàn giải phóng, đảo ủy lâm thời được thành lập tại đây ngay sau đó và lần lượt giải phóng các trại. Đến 8h30 ngày 1/5/1975 tù nhân tù chính trị đã hoàn toàn giải phóng côn đảo chấm dứt cảnh địa ngục trần gian sau 113 năm từ năm (1862 – 1975).

 

DI TÍCH BANH MỘT TRẠI PHÚ HẢI:

Trung tâm cải huấn phú hải – trại phú hải, đây là một trại giám lớn và cổ nhất của hệ thống nhà tù Côn Đảo do Thực Dân Pháp xây dựng từ những năm cuối thế kỷ 19.

Tên gọi đầu tiên là Banh I, sang thời mỹ ngụy gọi là Lao I, sau đó đổi tên là trại cộng hòa, trại hai, và tên gọi cuối cùng là trại phú hải tên gọi này được sử dụng từ tháng 11/1974.

Sau hiệp định Paris ký kết trong âm mưu ém dấu tù chính trị không trao trả, địch cho đổi tên gọi tất cả các trại giam ở côn đảo, mỗi trại đều được ghép với chử phú và hệ thống nhà tù côn đảo trực thuộc TTCH Phú Hải.

Ngày 28/11/1861, thực dân pháp chiếm quần đảo Côn Đảo, sau đó hai tháng Thống Đốc Bonard ở nam kỳ ban hành nghị định thành lập khu giam cầm tại Côn Đảo, lập tức ở vị trì này họ cho xây lên một dãy nhà ngục nhưng tạm thời bằng vách đất, mái tranh và 50 tù nhân có án từ một đến mười năm bị đưa ra côn đảo giam vào đây vào đầu tháng 3/1862. sau đó ba tháng vào đêm 28/6/1862 50 tù nhân đã kết hợp với hơn 100 quan lính triều nguyễn làm cuộc khởi nghĩa nổi dậy đốt phá trại giam, đánh đuổi khoảng một chục tên cai ngục pháp phải bỏ chạy xuống một chiếc thuyền nhỏ về nước.

Nhưng sau cuộc khởi nghĩa số nghĩa binh này không tìm được phương tiện về đất liền nên hai tuần lễ sau thực dân Pháp phái một thông hạm Norazaray đến Côn Đảo tàn sát số nghĩa binh, họ giết chết hơn 100 người và bắt sống 20 tù nhân. Họ buộc 20 tù nhân này phải mang hơn 100 xác chết lên trên một đồi cát chôn chung một mồ, sau đó họ chôn sống luôn 20 tù nhân ở đó (di tích bãi sọ người).

Sau đó thực dân pháp có kế hoạch cho xây dựng một nhà ngục kiên cố với tổng diện tích là 12015 m2 có tường dày bao bọc bên ngoài.

Năm 1896 đã hoàn tất bao gồm :hai dãy khám giam được xây đối diện nhau, mỗi dãy 5 khám (đánh số từ trái sang phải 1-10), phía cuối sân, nối qua hai dãy khám có 20 hầm đá (còn gọi là xà lim) cuối dãy khám giam bên trái còn có một phòng giam “ tù đặc biệt”. Kế đó là “hầm xay lúa”, vừa là nơi khổ sai xay lúa, vừa là nơi đày ải trừng phạt ngiệt ngã đối với tù nhân. Ở góc cuối bên phải còn có một khu đất trống dùng để phạt tù nhân khổ sai đập đá. Đây cũng là nơi dành cho những tù nhân bị ghép vào thành phần nguy hiểm, có thể vượt ngục bất cứ lúc nào vì thế nên họ không dám cho đi làm khổ sai ở các sở tù bên ngoài.

Bình quân ở trên đảo có khoảng 18 sở tù khổ sai, háng ngày họ đưa tù nhân đi làm các công việc khổ sai ở các sở này, chiều về đến trước cửa phòng giam tù nhân phải cởi hết quần, áo cho cai ngục khám xét, cứ trần truồng như thế nằm ngủ. Nơi đây còn là hiện thân của “địa ngục trần gian” những công việc khổ sai như: xuống biển mò lấy san hô mang lên nung thành vôi bột, đến việc lên rừng khai thác đá, khéo gỗ, dọn tàu… còn rùng rợn hơn cả cái chết.

Sang thời Mỹ Ngụy để đánh lừa dư luận trong và ngòai nước, Mỹ Ngụy cho xây dựng: nhà nguyện, giảng đường, câu lạc bộ, nhà ăn, phòng hớt tóc….và cho chuyển “hầm xay lúa” thành bệnh xá của trại giam. Sân trại còn được trồng hoa kiểng như một công viên. Đây là một công trình vừa mang tính hình thức để đối phó với dư luận vừa dùng để mua chuộc dụ dỗ tù chính trị ly khai, tố cộng…

Có thể nói, tất cả các lớp tù từ thưở Cần Vương, Văn Thân chống pháp, đến nhiều chiến sỹ cách mạng việt nam, tiếp đến thế hệ nam nữ sinh viên học sinh xuống đường biểu tình chống mỹ –thiệu đều trải qua những năm tháng tù đày khốc liệt tại đây.

Phòng 6-còn được gọi là phòng chết điển hình: thời mỹ –ngụy, từ 1957 đây là nơi khởi đầu cuộc chiến tranh chống ly khai đảng cộng sản của tù chính trị câu lưu(không án);ngọn cờ đầu của phong trào đấu tranh bảo vệ khí tiết của tù chính trị côn đảo. Địch đã thực hiện âm mưu phân hóa giữa cộng sản và kháng chiến nhưng âm mưu đó thất bại nên họ đã ra sức đàn áp dã man những người tù chính trị, do đó mà người tù hy sinh ở đây rất nhiều. Chính vì vậy, phòng giam này vào thời mỹ ngụy được gọi là “phòng chết điển hình”

Năm 1995, để kỷ niệm 20 năm ngày Côn Đảo giải phóng, bộ văn hóa thông tin giao cho công ty mỹ thuật TW phục chế lại mô hình tượng nhằm tái hiện lại cảnh sống và sinh hoạt của tù nhân (thời thực dân pháp) trong 24 tiếng đồng hồ. Phòng giam lúc bấy giờ giam trung bình từ 80-120 tù nhân, nhưng sang thời mỹ ngụy số tù chính trị bị đày ra Côn Đảo ngày càng nhiều nên số lượng tù nhân tăng lên 100-150 người, lúc cao điểm lên đến 180 người. Những lúc ấy tù nhân nằm trên bệ không đủ phải nằm trên nền nhà. Khắc nghiệt nhất là lúc phạt cấm cố (xiềng chân) người tù nằm ở dưới bệ phải chịu cảnh treo chân lên thanh sắt. Thêm nữa là khi bị xiềng chân cấm cố tù nhân phải đi vệ sinh tại chổ vào một thùng gổ. Trên mỗi bệ ximăng có bố trí thùng gỗ để người tù đi vệ sinh và đây cũng là điều rất khắc nghiệt, bởi vì người nào có nhu cầu đi vệ sinh phải đánh thức những người bạn tù thức dậy hết để chuyển thùng gỗ này lần lượt đến tay họ do đó mà suốt đêm tù nhân khó có thể ngủ yên giấc (thường là mỗi bệ chỉ bố trí có một thùng)

Phòng số 7: đây là nơi chi bộ Đảng Cộng Sản đầu tiên trong nhà tù côn đảo ra đời cuối năm 1932 tại banh I, sau phát triển thành Đảng ủy Côn Đảo,lãnh đạo cuộc đấu tranh của tù nhân với sự đóng góp xuất sắc của đồng chí Nguyễn Hới, Tôn Đức Thắng, Ngô Gia Tự, Trần Quan Tặng, Nguyễn Chí Diểu, Lê Văn Lương, Nguyễn Duy Trinh…..

Banh I cũng là nơi dnhững người cộng sản mở lớp học văn hóa, lý luận, chính trị. Đặc biệt là khóa học chủ nghĩa lênin theo chương trình huấn luyện của đại học phương đông(liên xô) do giáo sư trần văn giàu phụ trách. Tờ báo Tiến Lên (tiếng nói của hội tù nhân) và tờ ý kiến chung (cơ quan lý luận của tù chính trị)từ cuối năm 1935 cũng chuyển từ banh II về banh I.

*Phòng 9: Nơi đây từng giam giữ đồng chí Tôn Đức Thắng, Võ Sỹ, Võ Thúc Đồng…. Và cũng là nơi biên soạn Tạp Chí “Ý Kiến Chung”. Ngày đầu tiên bác Tôn Đức Thắng bị đày ra côn đảo bị đưa vào khám giam này(2/7/1930).

*Phòng 10: Thời Mỹ Ngụy vào năm 1958 trong đợt chống học tập tố cộng địch đã đàn áp dã man 175 người tù chính trị trong âm mưu phân hóa giữa cộng sản và kháng chiến nhưng địch đã không thực hiện được.

*Phòng giam tù đặc biệt: Ngoài 10 phòng giam ra còn có 1 phòng giam dành cho tù đặc biệt nằm phía sau câu lạc bộ. Thời pháp đã dùng nơi đây giam giữ những người làm khổ sai hàng ngày ở hầm sai lúa trong đó có Bác Tôn, Phạm Hùng,Lê Văn Lương, Ngô Gia Tự……sau đó (1946)thực dân pháp giam giữ 46 người tù có án tử hình đầu tiên.

Đến năm 1957, Mỹ Ngụy đã đưa ra 41 phụ nữ chống ly khai, tố cộng (đã có thành tích từ các nhà lao ở đất liền đưa ra côn đảo.

Sau đó năm 1958 – 1960, giam giữ đàn áp dã man cán bộ cốt cán chống học tập tố cộng ly khai Đảng Cộng Sản.

*Hầm xay lúa: Thời thực dân pháp đây là một căn phòng xây tường đá bao vây, ở trên có một lớp trần làm bằng vải đen, bao tời,… và chỉ có một cửa đi thông qua phòng giam đặc biệt (không có cửa thông gió như hiện nay) trong căn nhà bịt kín này được bố trí 5 cối xay lúa. Cối xay được làm bằng vỏ thùng rượu vang cưa đôi ra và lèn đất sét bên trong nên rất nặng mỗi cối phải có từ 4 đến 6 người mới kéo nổi. Từ công việc kéo cối xay, vác lúa gạo…..người tù làm khổ sai ở đây còn phải chịu thêm cực hình nữa là hai người bị xích chung một sợi dây xích có lê theo một quả tạ (quả tạ nặng trung bình từ 3-7kg). Có thể nói đây là nhà tù trong nhà tù.

Sang thời Mỹ Ngụy, để đánh lừa dư luận địch cho dẹp cối xay và chuyển thành bệnh xá. Bệnh xá ở nhà tù côn đảo được xem như một nhà xác. Tù nhân được chuyển đến đây để nằm chờ chết. Chưa kể trong chiến dịch đàn áp tù nhân chống ly khai địch dùng bệnh xá để mua chuộc dụ dỗ người tù trong cơn hấp hối. Một cái lắc đầu (không chấp nhận ly khai) lập tức mũi thuốc bơm bỏ xuống đất. Hoặc phát thuốc súng không đúng bệnh, bất kể bệnh gì cũng phát một loại thuốc- thuốc ký ninh (thuốc trị bệnh sốt rét).

Khu xà lim: xà lim còn gọi là hầm đá, gồm có 20 hầm đá địch sử dụng những xà lim này để biệt lập, cấm cố và đày ảinhững người tù bị ghép vào thành phần huy hiểm, ngoan cố, chống đối…hay những người vượt ngục bị bắt lại. Họ bị chốt chặt chân vào còng suốt ngày đêm, kể cả lúc ăn cơm và đi vệ sinh cho đến khi nào mãn hạn nằm hầm mới được cởi bỏ chiếc cùm ra (nếu nặng thì chốt cả hai chân). Trong 10 ngày đầu bị phạt ở xà lim người tù phải ăn cơm nhạt, uống nước lã (mặc dù thức ăn ở nhà tù Côn Đảo chỉ là khô, tương, mắm…để lâu ngày bị mục đắng, ôi chua…)

Hầm xây bằng đá cao hơn 2m, trần xây cuốn, ở đây nhà tù có cảm giác như bị nhốt vào nhà mồ, vào mùa nắng nóng bức thì hơi nóng hầm hập suốt ngày, mùa đông hơi đá toả ra lạnh thấu xương, cửa xà lim bằng gỗ or sắt dày, đóng vào là kính như hủ nút, chỉ được hé vội một chút khi cai ngục mang cơm đến, hay dội cho một thùng nước vào buổi sáng cuối tuần (gọi là được tắm),người tù bị nhốt vào xà lim ít lâu là người héo quắt lại “mắt mờ, bại liệt”.

Xà lim đôi: bên cạnh những xà lim đơn còn có những xà lim đôi, ở đây có thể giam một lúc 10-30 người, cốt để cho người tù nóng bức, ngột ngạt vì thiếu không khí…làm kiệt sức và hao mòn sinh lực tù nhân, mặt khác muốn đánh vào tâm lý người tù bị cấm cố ở xà lim đơn, sẽ cảm thấy cô độc, không có bạn bè, đồng đội để chia sẻ, tâm sự hay chăm sóc như thế ý chí họ sẽ bị rạn nứt…

Xà lim số 9: còn lưu lại bốn câu thơ  của người tù tên Huỳnh Văn Chẩn bị đưa vào hầm đá ngày 14/12/1958.

“Người cách mạng chịu nhiều gian khổ

Dẫu gian lao nhưng vẫn coi thường

Bền chí vững lập trường

Vượt qua gian khó trên đường quang vinh”

Nhà ăn: đây cũng là hình thức trá hình của mỹ ngụy. Từ khi xây dựng nhà ăn này (1963) cho đến ngày nhà tù được giải phóng, không một người tù nào được đến đây ăn cơm( kể cả tù thường phạm).

Khu đập đá : các cụ Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn…đã từng khổ sai đập đá tại đây.

Năm 1918 ông tú Phạm Cao Chẩm một nhân sĩ yêu nước ở Quảng Ngãi và người thanh niên Nguyễn Trọng Thạc, một tướng tài, con trai của cụ Nguyễn Thiện Thuật, thủ lĩnh nghĩa quân bãi sậy đã hi sinh tại đây cùng 81 người tù khổ sai trong cuộc nổi dậy ngày mồng 4 tết (mậu ngọ), dưới làn đạn súng máy của tên bạo chúa Andouard chỉ huy bắn giết.

Đây cũng là nơi chiến sỹ yêu nước phan chu trinh sáng tác bài thơ Đập Đá Côn Lôn (được đưa vào văn học VN).

Làm trai đứng giữa đất côn lôn

Lừng lẫy làm cho lở núi non

Xách búa đánh tan năm bảy đống

Ra tay đập vỡ mấy trăm hòn

Tháng ngày bao quản thân sành sỏi

Mưa nắng càng bền dạ sắt son

Những kẻ vá trời khi lỡ bước

Gian nan chi kể việc con non.

Sang thời mỹ nguỵ nơi đây được chuyển làm trại mộc.

*Phòng số 3: thời mỹ ngụy đã giam cầm lần lược 250 tù tử hình (theo luật 10/59 cũa diệm ban hành). Đây cũng là nơi xảy ra cuộc vượt ngục hiếm thấy ở Nhà Tù Côn Đảo.

Vào đêm 12/10/1966, đồng chí Lê Văn Việt (tên trong tù là Nguyễn Văn Hai) chiến sĩ biệt động sài gòn, người đã từng làm chân động thủ đô sài gòn trong trận đánh sập tòa đại sứ mỹ năm 1965, cùng với chiến sĩ đặc công phạm văn dẩu và sinh viên yêu nước lê hồng tư đã dũng cảm trổ máy ngói khám tử hình vượt ngục tuy cuộc vượt ngục bất thành trong vòng 10 ngày sau ba người tửtù điều bị địch bắt lại song cuột vượt ngục ấy đã làm rung động bộ máy cai trị nhà tù côn đảo, địch phải gấp rút cho giăng dây thép gai kín trên nóc các phòng giam.

Banh I : là điển hình của chế độ khổ sai giết tù. Hầu như mỗi mảnh đất Côn Đảo đều khắt sâu nổi cực nhọc và thấm máu của người tù khổ sai. Trong sự đọa dày khốn cùng, những người cộng sản, những người yêu nước việt nam ở đây phải quyết định vân mênh hoặt là chịu chết mỏi mòn, hoặc là đâu tranh để sống trở vê tiếp tục hoạt động cách mạng họ phải chống chọi cả một bộ máy khủng bố từ tên chúa đảo đến đám gác ngục và bọn cập rằng tay sai. Điều đó đòi hỏi những người tù cộng sản phải được tổ chức thành đội ngũ chặt chẻ, hình thức đấu tranh thích hợp.

Trước cách mạng tháng tám 1945 một chi bộ đặc biệt được thành lập tại đây đã xác định những nhiệm vụ chủ yếu của người chiến sĩ cách mạng trong nhà tù và lòng trung thành với Đảng được đặt lên hàng đầu.

Tiếp theo lời kháng chiến chống pháp, những người tù chính trị ở banh một đã tổ chức ra liên đoàn tù nhân côn đảo (1947) và đảng ủy nhà tù (1950), sau gọi là đảo ủy. Liên đoàn tù nhân được tổ chức chặt chẻ ở từng trại từng phòng từng kiếp tù cho đến tận mâm ăn, tổ nhóm, giống như một cơ quan quyền lực của tù nhân.

Banh một đã trải qua 113 năm với bề dày lịch sử ngang tuổi nhà tù còn lưu lại nhiều dấu ấn anh hùng trong cuộc đấu tranh lâu dài và bất khuất của những người yêu nước và Cách Mạng Việt Nam trong nhà tù thực dân đế quốc.

NGHĨA TRANG LIỆT SỸ HÀNG DƯƠNG

Nghĩa Trang Hàng Dương được quy hoạch rộng 190.000 m2, gồm 3 khu: khu A, khu B, khuC. Theo số lượng ước tính có khoảng 20.000 tù nhân đã chết ở Côn Đảo. Tuy nhiên không phải tất cả đều nằm ở Hàng Dương. Nghĩa địa tù được lập ở khu vực Chuồng Bò, sau dời lên Hàng Keo. Từ năm 1944, chế độ khủng bố trắng sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã giết hại hàng ngàn tù nhân. Nghĩa địa Hàng Keo hầu như hết chỗ, thực dân Pháp mở nghĩa địa Hàng Dương để chôn tù. Tính đến ngày Côn Đảo hoàn toàn giải phóng (1975), nghĩa trang liệt sỹ này đã tròn 35 tuổi. Trong vòng 35 năm ấy, ước tính khoảng 6.000 tù nhân bị giết hại.

Khu A nghĩa trang, nơi có phần mộ cũ Nguyễn An Ninh và đồng chí Lê Hồng Phong là nơi chôn những ngôi mộ đầu tiên. Mỗi người tù xấu số được liệm bằng 2 chiếc bao bàng (đan bằng loại cỏ ống), cột 7 nút lại, rồi đưa ra vùi chung một hố.

Năm 1944, khu A đã chôn chật mộ, nhà tù đã mở rộng nghĩa trang về phía Nam, tức khu B hiện nay. Hài cốt lớp tù nhân kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) được chôn kế tiếp từ đồi cát chạy dài xuống phía Đông Nam, nơi có phần mộ người thiếu nữ anh hùng Võ Thị Sáu.

Hài cốt lớp tù nhân chống Mỹ được chôn tiếp vào phần còn lại của khu B và chôn tiếp qua khu C. Gần 500 tù chính trị câu lưu chống ly khai Đảng Cộng Sản trong những năm 1957 – 1963 được chôn trong khu B.

Mỗi ngôi mộ ở nghĩa trang này không chỉ là một số phận bi hùng, một chứng tích tội ác của thực dân đế quốc mà còn âm vang những trang sử hào hùng của cuộc đấu tranh trong tù, tỏa sáng chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.

Sân hành lễ nằm ở trung tâm nghĩa trang với một tượng đài mang hình tượng Trao Áo. Tượng đài cao 9m, nặng 25 tấn được khởi dựng ngày 16/7/1980. Dưới chân bức tượng có ghi “Vĩnh biệt các đồng chí”. Tượng đài được tái tạo từ câu chuyện”Chết còn cởi áo trao nhau”. Người trao áo là ông Vũ Văn Hiếu, nguyên là Bí thư đầu tiên của đặc khu mỏ Hòn Gai (tháng 10/1930). Người nhận áo nguyên là cố Tổng Bí Thư Lê Duẩn.

Nghĩa trang Hàng Dương được bảo tồn như một di tích lịch sử đặc biệt. Nghĩa trang Hàng Dương với hàng ngàn nấm mộ có tên và không tên là bằng chứng hùng hồn về tội ác của đế quốc, thực dân đối với dân tộc ta. Đó là nơi yên nghỉ của hàng ngàn người con ưu tú của dân tộc ta, đã đối mặt với kẻ thù giữa lao tù, xiềng xích, trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
THÔNG TIN:

TT – Sáng 12-11, UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã khánh thành cầu Chà Và – cây cầu nối thôn đảo Gò Găng với trung tâm xã Long Sơn, TP Vũng Tàu. Cầu được khởi công xây dựng từ tháng 6-2009, với tổng mức đầu tư 850 tỉ đồng và là cầu dài nhất khu vực Đông Nam bộ với chiều dài hơn 1,1km.

Việc có cầu này cùng với việc đưa vào sử dụng cầu Gò Găng từ năm 2007 (nối thôn Gò Găng với quốc lộ 51, đoạn thuộc P.12, TP Vũng Tàu), đã xóa sổ “ốc đảo” cuối cùng của TP Vũng Tàu.

Cầu Chà Và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và là một trong những hạng mục hạ tầng quan trọng chuẩn bị cho các dự án trọng điểm tại Long Sơn sẽ đi vào hoạt động như: sân bay Vũng Tàu, khu chế biến hải sản tập trung tại Gò Găng, khu công nghiệp dầu khí, Nhà máy lọc dầu Long Sơn…

Có cầu Chà Và, gần 200 hộ dân ở thôn Gò Găng được đi lại thuận tiện qua trung tâm xã hay về TP Vũng Tàu – vốn trước đây phải đi bằng thuyền hoặc đi đường vòng rất xa. Ngoài ra, khi có cầu, điện nước cũng sẽ được kéo đến phục vụ bà con thôn Gò Găng. Hiện các hộ dân ở đây phải dùng bình ăcquy hoặc điện bằng năng lượng gió để sinh hoạt, xem tivi và chưa có nước sạch để dùng.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s