Những tờ bìa tạp chí cuốn hút tại Việt Nam


From http://idesign.vn

Tại iDesign bạn hẳn đã xem nhiều những trang bìa tạp chí trên thế giới. Nhưng ở Việt Nam chúng ta vẫn có những trang bìa vô cùng cuốn hút, đẹp từ ý tưởng, phông chữ tới hình ảnh.

 

Đẹp

Liên tục có những trang bìa tuyệt vời phải kể tới tạp chí Đẹp. Lên trang bìa của Đẹp luôn là những gương mặt người mẫu nổi bất nhất hiện tại, cùng với một ê kíp chuyên nghiệp, trang bìa của Đẹp khiến chúng ta không thể rời mắt.

Tuy nhiên hơi hướng trên trang bìa của tạp chí Đẹp lại có vẻ châu Âu, ngay cả khi ê kíp thực hiện lên tận Hà Giang để chụp những hình cho số 156, thì cũng không thấy yếu tố Việt trên hình.

(click vào mỗi hình để xem lớn hơn)

Elle

Sự xuất hiện của tờ tạp chí đình đám Elle tại Việt Nam (21/10/2010) có thể gây sốt với bất cứ fan hâm mộ tạp chí nào. Xứng đáng với sự kỳ vọng, Elle mang tới Việt Nam những phong cách riêng của mình.

Đàn ông

Thể thao & Văn hóa ra đời tạp chí Đàn ông là một quyết định đúng đắn. Cùng với những tờ bìa đẹp, tạp chí đang có một số lượng độc giả nhất định. Tuy vậy chữ “Đàn ông” quá tệ, và những tờ bìa đẹp không thường xuyên có trên Đàn ông.

Du lịch

Tờ Du lịch rất quan tâm tới “bộ mặt” của mình, hầu hết các trang bìa đều được đầu tư cẩn thận. Tuy nhiên tiêu chí của trang bìa đôi lúc không gần gũi với “du lịch”. Nếu khai thác ý tưởng của “du lịch” chắc chắn bìa tờ Du lịch & giải trí có thể tốt hơn rất nhiều.

Duyên dáng Việt Nam

Tên tờ tạp chí thật sự gây cuốn hút. Vì chúng ta cần tôn vinh nhiều hơn những vẻ đẹp của người Việt Nam, phong cách Việt Nam. Nhưng cũng như các tờ tạp chí khác, những tờ bìa của DDVN chưa tạo ra nhiều khác biệt.

Hàng hiệu

Không trừu tượng, cái tên “hàng hiệu” tự chọn cho mình độc giả, những người không quan tâm tới “hàng” chỉ quan tâm tới “hiệu”. Các tờ bìa tạp chí Hàng hiệu gây ấn tượng bởi sự đơn giản, sang trọng, tinh tế như chính cái tên của mình.

Style

Style – phong cách. Tuy nhiên ngoài 2 tờ bìa xem được như dưới đây, những trang bìa khác của Style không gây ấn tượng như cái tên của nó.

Đáng lẽ chúng ta có thể có nhiều những trang bìa đẹp hơn nếu các Tổng biên tập của tờ tạp chí đó quan tâm nhiều hơn tới vẻ thu hút của trang bìa của mình.

Tờ Stuff rất nổi tiếng trên thế giới, nhưng ở Việt Nam nó chả gây ấn tượng nào. Hay những tờ báo tiềm năng như Cẩm nang mua sắm – loạt bìa đầy những loạt ảnh xấu và sến.

Chúng ta cũng có những tờ báo về Công nghệ, Kiến trúc, Nội thất, Ẩm thực, nhưng để lựa chọn ra một tờ bìa đẹp lại khó như mò kim đáy bể.

Cũng không thể nói là đề tài của các tờ trên khó thiết kế. Hãy cùng xem tờ Thương Gia dưới đây. Không dể để mang tới tạp chí cho các doanh nhân những sự cuốn hút. Tuy nhiên tôi thấy người thiết kế trang bìa của tờ Thương Gia rõ ràng đã làm rất tốt.

Phông chữ đơn giản, gọn gàng, những gương mặt của các doanh nhân thành công biểu lộ vẻ tự tin, thành đạt. Nếu bạn tình cờ lướt qua hẳn bạn cũng sẽ lật vài trang xem “tình hình” thế nào.

iDesign.vn

Mê hoặc với Nhiếp ảnh trắng đen


From http://idesign.vn

Hàng chục năm sau, hay có lẽ không bao giờ kết thúc, nhiều nghệ sĩ nhiếp ảnh vẫn còn sử dụng màu đen và trắng cho mục đích nghệ thuật. Ảnh trắng đen là một trong những thể loại tốt nhất và tinh tế nhất của nhiếp ảnh. Đối với những người bắt đầu vào nghề nhiếp ảnh thì bạn hãy tập chụp trắng đen trước khi chụp màu.

Như tất cả họa sĩ đều phải bắt đầu vắt bút chì, than v.v. để bắt đầu những tác phẩm đầu tiên bằng các màu đen trắng. Những người nhiếp ảnh cũng vậy, nếu bạn đã chụp tốt đen trắng, bạn sẽ quen với những tương phản sắc độ, cảm giác chân thật với chất liệu, và không bị những màu sắc (nếu bạn chưa quen) làm rối mắt của mình.

 

Hãy xem những bức ảnh đen trắng dưới đây để có cảm hứng cho bạn.

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

Histograms: Có thể bạn chưa biết…!?


From http://idesign.vn

Bạn có thể đã hiểu về Histograms (biểu đồ) trong photoshop, hay trong những thông số của máy dlsr. Nếu bạn chưa biết thì hãy cùng tìm hiểu về những biểu đồ có vẻ “thừa” này.

Histograms được thấy khá phổ biến, nhưng đáng tiếc nhiều người lại hay bỏ qua hay hiểu sai về histograms dù nó đặc biệt hữu ích nhất là khi nói đến Strobist Photography. (Nhiếp ảnh sử dụng đèn strobist)

 

Rất nhiều người sẽ cho bạn biết rằng, một bức ảnh đẹp phải có 1 histogram đẹp, đây là một sự “chém gió” trắng trợn và bạn cần lập tức phản ứng với người nào nói vậy.

 

Những gì bạn cần biết là Histogram như một đồng hồ ánh sáng sau khi bạn chụp một kiểu ảnh.

 

Cấu tạo của một Histogram. Từ trái sang phải Histogram sẽ cho bạn biết về phần tối, trung tính, và phần sáng trong ảnh của bạn. Còn nhìn từ trên xuống dưới nó cho biết bao nhiêu điểm ảnh trong hình ảnh bị ảnh hưởng trong khu vực đó.

 

 

 

 

Khi tôi xem lại ảnh, tôi có thể quan tâm đến những gì Histogram cho tôi thấy hơn là xem trước những tấm ảnh xem thế nào. Tôi không tìm kiếm histogram tốt hay xấu, không có việc đó, tôi tìm kiếm một phong cách ảnh mà tôi cho là phù hợp.

 

Tôi đặt vài ví dụ về hình dạng Histogram và những hình ảnh có hiển thị tương ứng.

 

 

 

 

Vì vậy lần sau bạn ra ngoài với chiếc máy ảnh của mình, hãy thử kiểm tra histogram trên máy ngay sau khi “bắn”, hy vọng nó sẽ cho bạn một cái nhìn sâu hơn về những tấm ảnh bạn chụp được.

 

 

Dịch từ ricknunn

Lâm Trần – Vamp và những tấm ảnh cuốn hút


From http://idesign.vn

Lâm Trần Vamp dành 6 năm để theo đuổi ngành thiết kế đồ họa trước khi phát hiện ra tài năng chụp ảnh của mình. Vamp đã chụp rất nhiều ảnh trong suốt 2 năm qua ở Việt Nam và anh cũng có kinh nghiệm làm việc với người mẫu quốc tế. Hiện nay Vamp đang du học ở Canberra, Úc cho đến năm 2013

Khi ghé thăm website của LamTran tôi đã bị sock khi ghé thăm loạt ảnh về thời trang được đăng trên trang web cá nhân của LamTran. Tất cả đều tuyệt vời, ấn tượng tới khó tin.

 

Nhưng ngay sau đó tôi nghĩ: Một người không bao giờ có thể hoàn thành được những tấm ảnh như vậy. Và tôi đúng. Những tác phẩm xuất sắc nhất của LamTran là kết quả làm việc của đội ngũ Model, Creative Director, Set Design Style, Make up, Stylish …

 

Tuy nhiên trước khi được chọn làm photographer cho một ekip chuyên nghiệp như vậy, Lamtran đã chứng tỏ được tài năng qua những bức ảnh tuyệt đẹp của mình.

 

Hãy cùng iDesign xem những tác phẩm tuyệt vời của LamTran Vamp.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bạn có thể xem thêm các tác phẩm trong bộ sưu tầm khổng lồ của LamTran-Vamp tại đây.

Raw và JPEG… tại sao không…?


From http://idesign.vn

Những mẹo sau đây về RAW và JPEG được gửi bởi Richard và Rebecca từ Finn Production. Nó đến từ 1 cuộc thảo luận JPG hay RAW trên Flickr. Bạn hãy đọc nếu chưa rõ về 2 định dạng này.

Bạn đã chi ra ít nhất 600$ (hoặc có thể là 1000$) cho chiếc máy DSLR của mình. Bạn sẽ có thêm các nút điểu chỉnh tự động, và bắt đầu phải nghiên cứu sách và các tài liệu hướng dẫn trên mạng.

 

Chúng giúp bạn hiểu vể ISO, tốc độ của cửa chập (shutter speed), và làm thế nào với khẩu độ (apenture). Những chiếc máy ảnh chất lượng khá có thể có định dạng RAW (RAW format), dù nó có ý nghĩa/chất lượng gì, thì chúng ta vẫn dành tình yêu cho định dạng JPEG quen thuộc.

 

Như tôi luôn cảm thấy hài lòng khi chụp định dạng JPEG. Nhưng một ngày nhìn vào bảng điều chỉnh RAW và tôi tự hỏi “Tôi có nên sử dụng RAW để cho chất lượng tốt nhất? RAW chính xác là gì?”

 

Một câu hỏi hay. Đầu tiên chúng ta hãy cùng tìm hiểu 2 định dạng này.

 

Một file RAW là…

  • Nó không là định dạng ảnh có thể thấy được (Nó cần một phần mềm đặc biệt để xem, dù phần mềm cũng rất dễ có)

 

  • Nó có ít nhất 8-bits trên mỗi màu – red, green, blue (12 -bits tại vị trí X,Y), hầu hết máy DSLR có 12-bit/màu (36 bit cho mỗi vị trí)

 

  • Nó không được nén (một chiếc máy chụp hình 8 megapixel sẽ cho một file RAW dung lượng 8M)

 

  • Nó lấy dữ liệu hoàn toàn từ cảm biến của máy ảnh (camera’s sensor)

 

  • Nó có phạm vi xử lý đa dạng – dynamic range (tăng cường khả năng hiển thị ánh sáng, và bóng tối)

 

  • Độ tương phản thấp (nhìn phẳng hơn, và trong hơn)

 

  • Không sắc nét

 

  • Không thích hợp cho việc in ấn trực tiếp từ máy ảnh hoặc những công việc cần tốc độ (Ví dụ như upload)

 

  • Nó chỉ có thể Read only (ko chỉnh sửa) – (Tất cả thay đổi được lưu trong một XMP “sidecard” file hoặc JPEG file hoặc một định dạng ảnh khác).

 

  • Đôi khi nó xuất hiện trên máy như một tập tin lạ (không giống như những tập hình ảnh thường thấy trên máy)

 

  • Cần thời gian để xử lý trên máy tính

 

JPEG là…

 

  • Một định dạng chuẩn có thể đọc được bởi tất cả các chương trình xử lý ảnh trên thị trường, hay mã nguồn mở có sẵn.

 

  • Nó có chính xác 8bit cho mỗi màu (12 bit cho từng vị trí)

 

  • Nó được nén (bằng cách giảm đi dữ liệu như trong file ZIP, hoặc bỏ đi những điều con người không thể nhận biết như nghe nhạc nén MP3)

 

  • Kích thước tập tin nhỏ (một máy ảnh 8 megapixel sẽ cho một file JPEG từ 1 – 3 Mb)

 

  • Phạm vi xử lý không đa dạng (lower in dynamic ranger)

 

  • Tương phản cao

 

  • Sắc nét hơn

 

  • Có thể in ấn, chia sẻ trên web ngay tức thì.

 

  • Không cần chỉnh sửa nhiều

 

  • Có thể sử dụng để Manipulation – mặc dù bị mất dữ liệu trên ảnh, ngay cả khi bạn xoay chúng

 

  • Nó được xử lý bằng máy ảnh của bạn.

 

Những khác biệt này hoàn toàn hẫn dẫn trong từng tình huống cần sử dụng. Ví dụ, nếu bạn không có đủ bộ nhớ để lưu nhiều ảnh trong máy ảnh, thì với định dạng JPEG có thể lưu nhiều gấp 2-3 lần với dạng RAW. Nó cũng tốt với các sự kiện mà cần chia sẻ hình ảnh nhanh chóng.

 

Mặt khác đôi khi bộ nhớ có thể không thành vấn đề (các thẻ nhớ ngày càng rẻ hơn). Bạn hoàn toàn có thể “chơi sang” bằng cách chọn chụp cho kết quả RAW+JPEG để đáp ứng các tình huống. Nếu cần chia sẻ ngay thì bạn dùng JPEG, sau đó về nhà thì có thể lấy file RAW.

 

Vấn đề là bạn muốn chất lượng là trên hết (như các nhà chuyên nghiệp), và bạn muốn có được tất cả những gì mà cảm biến máy ảnh của bạn làm được, và không muốn mất mỗi bit có được cung cấp từ chiếc máy DLSR, điều mà chỉ có thể làm được với RAW.

 

Vẫn có những nhiếp ảnh gia  chuyên nghiệp không chụp ảnh RAW với 1 trong hai lý do;

 

1- Họ không biết làm thế nào

 

2- Họ không muốn bỏ thời gian xử lý những hình ảnh sau đó.

 

 

1. JPEG, Unprocessed

2. JPEG, Auto Adjustments

3. RAW, Unprocessed

4. RAW, Auto Adjustments

 

Chụp ở định dạng JPEG

Khi bạn chụp ở dạng JPEG, phềm mềm nội bộ của máy ảnh (được gọi là Firmware vì nó là một phần cứng của máy) sẽ đưa thông tin ra cảm biến sensor và tiến hành xử lý nó trước khi lưu lại. Một số màu bị mất cũng như độ phân giải thấp (và trên một số máy ảnh, nó còn có sạn “noise” trong JPG nhiều hơn RAW).

 

Những hành động của Discrete Cosine Transforamtion (DCT – xem định nghĩa tại wiki) phân chia các hình ảnh thành các block (khối) – thường là 8×8 pixel và xác định những gì “an toàn” rồi bỏ nó đi bởi vì nó ít được nhận ra (các bước nén file JPG chất lượng thấp sử dụng cách nén này).

 

Và khi hình ảnh được đặt lại với nhau trên một hàng với 24 pixel chỉ còni 4-5 tone màu khác nhau, trong khi trước đó là 24 tông màu. Các dữ liệu màu này mãi mãi mất đi mà không thể lấy lại nếu không lưu ở dạng RAW.

 

Chụp JPG cũng tốt hơn trong trường hợp bạn cần chụp liên tục, bạn có thể burst (chụp liên tục) trong vài phần giây, vì quá trình lưu vào thẻ nhớ diễn ra nhanh hơn so với lưu file dung lượng lớn RAW.

 

Chụp ở RAW

Nếu bạn chụp ở RAW, máy tính chứ không phải máy ảnh sẽ xử lý dữ liệu và tạo ra một tập tin dạng ảnh. Việc chụp ở RAW tăng thêm quyền kiểm soát cho hình ảnh bạn đã chụp, nó thậm chí có thể sửa lỗi khi bạn đã chụp xong, ví dụ như vấn đề phơi sáng (exposure).

 

Để tận dụng lợi thế của RAW bạn chắc chắn cần sử dụng phần mềm trên máy tính để xử lý các file và tạo ra JPEG (hoặc TIFFs).

 

Tôi phát hiện ra phần mềm Camera Raw đi kèm với Adobe Photoshop CS2 rất tốt để xử lý các tập tin RAW (thậm chí xử lý hàng loạt), cho dù mỗi người có sở thích của riêng mình (RawShooter có rất nhiều fan hâm mộ).

 

Khi bạn bạn tải một file RAW sử dụng Adobe Photoshop Cs2, phần mềm Camera Raw sẽ tự động bật lên. Với hầu hết các tập tin, những cài đặt tự động (automatic settings) đều tốt, nhưng bạn có khả năng thay đổi cân bằng trắng (white balance), phơi sáng (exposure), constrat (tương phản), saturation (độ bão hòa), và thậm chí các màu riêng biệt như Reg, Green, Blue cho ưng ý – Tất cả không bị giảm chất lượng,

 

Nếu cân bằng trắng (white balance) được không tốt, tôi thấy nó rất dễ để chỉnh khi sử dụng Camera Raw hơn là bạn chỉnh sửa trên JPG – Kết quả sửa với RAW thường tốt hơn.  Các chi tiết phong phú, màu sắc và khả năng điều chỉnh, chi tiết (độ sắc nét), tất cả đều có thể tùy chỉnh tốt hơn với định dạng RAW.

 

Phần mềm nào tốt với RAW

Picasa (Free!)
Adobe Photoshop CS
ACD See (for Digital Asset Management)
iView Media Pro (DAM, gần đây Microsoft đã mua lại)
BreezeBrowser Pro
Adobe Lightroom
Capture One
IrfanView
DxO Optics Pro

Cuối cùng tất cả tùy thuộc vào bạn. Hãy thử để chế độ RAW + JPG (nếu máy bạn có chức năng đó) và so sánh xem cái nào bạn thấy thú vị hơn. Nếu bạn hài lòng với những tấm ảnh định dạng JPEG thì bạn cũng không nhất thiết phải chuyển qua chụp RAW.

Theo digital-photography-school

8 kỹ thuật chụp ảnh nên biết


From http://idesign.vn

Là một nhà thiết kế hẳn bạn cũng yêu nhiếp ảnh. Với tám hiệu ứng nhiếp ảnh cơ bản dưới đây, bạn sẽ có kết quả thú vị hơn khi bấm máy.

1. Bokeh

 

Bokeh là từ chuyên môn khi đề cập tới hiệu ứng của khu vực không được tập trung (focus) của ảnh. Để một tấm ảnh xuất hiện Bokeh đòi hỏi một chiếc máy chụp hình chất lượng khá với một ống kính có hỗ trợ để bạn có thể có tốc độ chụp nhanh.

 

 

 

 

 

 

 

Bạn cũng có thể tạo các hình thù khác nhau của bokeh, chẳng hạn như ngôi sao, hoặc trái tim. Điều này có thể thực hiện bằng cách chụp lên ống kính cái nắp bằng giấy có khoét hình mà bokeh mà bạn muốn thấy trên ảnh.

 

 

 

Tạo Bokeh hình trái tim trên ống Fix 50mm 1.8

 

 

2. Panning – Di chuyển

 

 

Panning là kỹ thuật đề cập tới sự chuyển động dọc, ngang trong khi chụp hoặc quay phim. Để có thể có kỹ thuật Panning, bạn cần di chuyển theo đối tượng, hoặc lia ống kính theo hướng di chuyển đối tượng và ấn nút chụp.

 

Nó sẽ đem lại hiệu ứng thú vị và thích hợp với những sự kiện có chuyển động như đua xe, thi chạy…

 

3. Quy tắc một phần ba

 

Quy tắc 1/3 là một quy tắc cực kỳ cơ bản, nó là dạng bố cục được nhiều họa sĩ và nhiếp ảnh gia lựa chọn. Quy tắc 1/3 là cách bạn chia bức ảnh làm 3 phần đối với hai chiều ngang và dọc, sau đó ngắm chụp sao cho đối tượng chính nằm trong 1/3 của ảnh.

 

Với những người chuyên nghiệp việc lựa bố cục đã thành thói quen, còn nếu bạn bỡ ngỡ thì việc luyện tập thường xuyên sẽ giúp bạn có bức ảnh ưng ý.

 

 

 

 

Nếu bạn say sưa chụp mà quên mất việc lựa chọn một bố cục thích hợp thì hãy để …Photoshop làm việc này.

 

4. Giờ vàng

 

 

Giờ vàng hay còn gọi là Magic Hour, đề cập tới những giờ mặt trời bắt đầu lên và mặt trời chuẩn bị khuất đi. Chúng là khoảng thời gian hoàn hảo trong ngày để tạo nên một tấm hình hoàn hảo, tuy nhiên lại rất nhanh qua do thời khắc “chiều tà” hay “hoàng hôn” rất ngắn.

 

 

 

 

 

 

 

Việc mặt trời gần đường chân trời giúp cường độ ánh sáng mặt trời giảm, màu sắc trở nên ấm ám và dễ chịu. Trong khi ban ngày thì trời quá sáng, khiến những đối tượng trong ảnh có thể xuất hiện bóng đổ không đẹp mắt, đặc biệt với nhiếp ảnh chân dung.

 

5. Tỉ lệ vàng

 

 

Tỉ lệ vàng xuất hiện trên dãy số Fibonacci: 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34 với số sau là tổng hai số trước đó. Các bố cục sử dụng Tỉ lệ vàng thường giúp mắt người tập trung tốt hơn, và những tỉ lệ này xuất hiện phổ biến trong thiên nhiên và cả với số đo cơ thể người.

 

 

 

6. Đánh Flash

 

 

 

 

Khi đối tượng có vật chắn sáng khiến phần tối tương phản nhiều với phần sáng, đánh flash là giải pháp tốt.

 

 

Đánh Flash là một kỹ thuật của nhiếp ảnh nhằm giúp cho các vùng tối trên ảnh được thấy tốt hơn.

 

7. Phơi sáng – Long Exposure

 

 

Phơi sáng là một kỹ thuật thú vị (nó ngược lại với Bokeh) khi đòi hỏi độ mở ống kính nhỏ và tốc độ màn chập trong thời gian dài. Việc này sẽ giúp ghi lại những yếu tố chuyển động trong khoảng thời gian đợi màn chập sập xuống.

 

 

 

 

 

 

Kỹ thuật này thường được chụp vào ban đêm khi nhiếp ảnh gia muốn ghi lại chuyển động của xe cộ, hay những ngôi sao. Tuy nhiên cũng có thể dùng vào ban ngày nếu bạn muốn chụp một dòng nước, hay sương mù buổi sáng, hoặc trên núi.

 

 

 

8. Contre-jour

 

 

Contre-jour trong tiếng Pháp là ngược sáng. Chụp ngược sáng nhiều khi là một lựa chọn sai, nhưng trong một số trường hợp nó lại đem lại hiểu quả bất ngờ. Nhờ sự tương phản cao giữa ánh sáng và bóng tối, nên các chi tiết hầu như biến mất, chỉ nổi lên các đường viền của đối tượng.

 

Tuy nhiên với một ống kính không được hỗ trợ tốt, việc chụp ngược sáng khiến ảnh bị mất nét. Vì thế có những bộ lọc – Filter hỗ trợ ngăn cản ánh sáng vào ống kính quá nhiều.

 

 

 

 

 

 

Kết luận

Để chụp ảnh tốt cần rất nhiều kỹ thuật, nguyên tắc để có những tấm hình được đánh giá cao. Vì thế nếu chưa biết bạn có thể làm quen với những kỹ thuật cơ bản trên đây.

Khi nắm vững các kỹ thuật, nguyên tắc cơ bản thì có những tấm ảnh tuyệt vời đối với bạn sẽ là việc dễ dàng hơn.

iDesign dịch từ 1stwebdesigner

23 tấm ảnh chụp đêm tuyệt vời


From http://idesign.vn

Chụp ban đêm đòi hỏi bạn phải mang theo chân máy, và quan trọng chiếc máy ảnh của bạn phải có khả năng chụp phơi sáng (long exposed). Xem các tác phẩm của nhiếp ảnh gia Andreas Reinhold để có cảm hứng cho bạn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những tấm hình chụp em bé của Studio Kristen Cook


From http://idesign.vn

Chúng ta đã xem nhiều những tác phẩm typography chụp trẻ em. Nhưng hiếm khi được thấy những thiền thần mới sinh được chụp ảnh. Có lẽ vì thời gian này các em bé dành phần lớn thời gian cho việc ngủ. Còn người Việt Nam lại kiêng chụp hình khi đang ngủ.

Ở phương tây thì không như vậy. Những lúc các em bé ngủ là thời điểm tuyệt vời để nhà nhiếp ảnh, và cả bố mẹ em bé có thể tìm những góc độ, tư thế, sắp đặt đẹp mắt để có được tấm hình đẹp.

 

Hãy xem Studio Kristen Cook tại Autralia đã chụp được những gì. Và có thể bạn sẽ thay đổi quan điểm của mình.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Jean-François Campos và chiến dịch mới của Dior


From http://idesign.vn

Trong những bức ảnh đen trắng này, Jean-François Campos đã cho thấy khả năng duy trì sự cân bằng giữa hội họa và nhiếp ảnh.

Điểm kỳ lạ là người ta khó có thể tưởng tượng được đây lại là một bộ ảnh quảng bá cho các sản phẩm mỹ phẩm. Có lẽ, chính sự táo bạo này đã mang lại ấn tượng về vẻ đẹp hiện đại trong dáng vẻ cổ điển.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Theo NDHMoney.vn

Ảnh chân dung từ những người trong gia đình


From http://idesign.vn

Ulric Collette sử dụng hình ảnh những người trong một gia đình để ghép lại với nhau, giúp cho người xem có góc nhìn thú vị về sự tương đồng, hay khác biệt của anh với em, bố với con…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Fubiz sưu tầm

10 lời khuyên khi chụp ảnh phong cảnh


From http://idesign.vn

Để có được bức ảnh phong cảnh tốt thì cụm từ “Chase light” – Săn ánh sáng – là phương châm của các nhiếp ảnh chuyên chụp phong cảnh. Nó không chỉ là một kỹ thuật – mà còn là một triết lý, một phương châm để tồn tại.

Nó là những đam mê để ghi lại những khoảng khắc kỳ diệu hiếm có của tự nhiên. Nó là năng lượng cho nguồn đam mê chụp ảnh thiên nhiên và trở thành Raison d’être (Lý do để tồn tại) của chúng ta.

1. Sử dụng màu cho hiệu ứng nghệ thuật

Canon EOS 5D Mark II, Canon EF 17-40mm ƒ/4L USM, 7-stop Schneider graduated ND, ISO 200, ƒ/18, 30 sec.

Hiếm có thứ gì gợi ra một phản ứng cảm xúc nhiều như màu sắc. Chụp ảnh bầu trời hoàng hôn tím có thể gây ấn tượng với người xem, điều tôi nói phức tạp hơn một chút về việc sử dụng màu sắc như một công cụ sáng tạo.

Có một số cách để thực hiện điều này. Làm nổi bật những màu cơ bản có thể gây hiệu quả với cảm xúc. Ví dụ màu đỏ, màu vàng thu hút sự chú ý và tạo hứng thú, đồng thời cũng truyền tải sự ấm áp, còn màu xanh cho cảm giác nhẹ nhàng và thư giãn, nhưng cũng có thể đem lại cảm giác cô đơn, lạnh lẽo.

Màu sắc tương phải cũng có tác động mạnh mẽ. Các họa sĩ từ lâu đã biết được sự tương phản luôn đem lại cho màu sắc sự sống động nhất. Ví dụ, màu ấm (đỏ, cam và vàng) sẽ tuyệt vời hơn khi so sánh với màu lạnh (xanh, lục lam).

Ngoài ra màu sắc có thể được sử dụng để tạo ra những bố cục tốt. Mỗi vùng màu tương phản sẽ tạo nên những hình dạng trừu tượng thú vị trong mắt người, và việc lặp đi lặp lại màu sắc tạo ra một cảm giác trật tự và một cái nhìn xuyên suốt.

2. Chụp trực tiếp vào nguồn sáng (mặt trời)

Canon EOS 5D Mark II, Canon EF 24-105mm ƒ/4L IS USM, ISO 50, ƒ/16, 1⁄30 sec.

Nói chung đó là việc tránh chụp ánh sáng tới phía sau lưng bạn (trừ khi mầu trời u ám, hoàng hôn) vì nó sẽ khiến bức ảnh của bạn không có chiều sâu và kém ấn tượng.

Thay vào đó hãy tìm kiếm một góc mà ánh sáng tới từ một bên hoặc phía sau cảnh. Ánh sáng một bên (sidelighting) và ánh sáng phía sau (backlighting) có thể tạo ra ấn tượng và cung cấp chất liệu cho cảnh quan.

Thách thức về kỹ thuật là khi làm việc với sidelighting là tránh việc tạo ra flare (nhưng vòng sáng từ mặt trời). Để tránh điều này, bạn cần làm tối ống kính của mình bằng cách sử dụng lens shade – loại filter dùng để chụp ngược sáng – tương tự như một cặp kính mát (râm).

Đối với việc chụp ngược sáng, sử dụng ống kính góc rộng với khẩu độ nhỏ (f/16 hoặc f/22) có thể tạo ra một ngôi sao ánh sáng nhỏ. Trong trường hợp này bạn không thể kiểm soát được việc mặt trời có thể tạo một chùm sáng phía trước, vì vậy cần chặn bớt ánh sáng mặt trời bởi các yếu tố xuất hiện trọng ảnh như một cành cây, đám mây hay một ngọn núi xa xa (che gần như hết mặt trời, tạo thành một chùm sáng le lói như ngôi sao). Hiệu ứng của việc này sẽ làm bức ảnh có cảm giác dễ chịu dù người xem có thể thấy mặt trời ở đâu ngay tức thì.

3. Học cách yêu thời tiết xấu

Canon EOS 5D Mark II, Canon EF 24-105mm ƒ/4L IS USM, ISO 50, ƒ/22, 5 sec.

Điều này là một sở thích của một số người khi đi chụp phong cảnh. Những khoảng khắc lạ thường trong thiên nhiên không xảy ra khi mặt trời rực rỡ, bầu trời trong vắt – nó chỉ xảy ra khi thời tiết biến đổi khó chịu.

Thời tiết, thời tiết xấu là một trong những yếu tố cực kỳ quan trọng của ảnh thiên nhiên. Thời tiết có thể biến những thứ tầm thường thành những thứ huyền diệu. Thời tiết ảnh hưởng tới màu sắc, ánh sáng, tâm trạng.

Thời tiết xấu đem lại những hiện tượng khí tượng như cầu vồng, sương mù, tia mặt trời le lói và cả những đám mây đen khổng lồ khi sắp mưa bão.

Thông thường ánh sáng tốt nhất xảy ra trước một sự kiện thời tiết, chẳng hạn như một cơn bão đang hình thành hoặc sắp tan đi. Bạn có thể nhận ra bởi những đám mây ấn tượng, ánh sáng hấp dẫn.

Hãy bình tĩnh khi nhìn thấy những đám mây xuất hiện, bạn có thể sắp săn được một khoảng khắc tuyệt vời.

4. Thế giới của sự phản xạ

Canon EOS 5D Mark II, AF-S Nikkor 14-24mm ƒ/2.8G ED (used with an adapter), ISO 100, ƒ/11, 1⁄13 sec.

Sự phản xạ có thể tạo thêm những màu sắc và sự ấn tượng cho một tấm ảnh, và nó có thể truyền tải vào đó một điều gì đó thật sự đặc biệt và độc đáo.

Nước tất nhiên là thứ tốt nhất để tạo ra sự phản xạ. Nước có thể như một tấm gương tạo ra một hình ảnh phản xạ của thế giới xung quanh bạn. Những dòng nước di chuyển tạo nên sự tương phản độc đáo, cường độ của phản xạ dựa trên độ sâu của nước và sự chuyển động của nó.

Một vũng nước mưa, một hồ bơi rõ ràng phản xạ sẽ rõ hơi một hồ nước sâu hay một con suối. Các bề mặt chứa nước sẽ tạo ra sự phản xả nhỏ hơn, như một chiếc là, một cục đá…

Phản xạ có thể dùng như chủ đề chính trong ảnh của bạn, hoặc đơn giản tạo nên sự tinh tế trong tấm ảnh.

5. Kết hợp giữa trời và đất.

Bất kể việc bầu trời đang có gì, trong xanh hay đầy mây u ám thì việc xem xét bầu trời là một yếu tố liên quan tới tấm ảnh là rất quan trọng.

Hãy chú ý điều gì đang xảy ra bên trên, đừng để những đám mây có thể phá hỏng khung cảnh phía dưới của bạn, hoặc khiến chúng tạo nên một phần tuyệt vời của tấm ảnh.

6 Ranh giới giữa tối và sáng (edge of light)

Năng lượng được nhìn thấy ở phần cạnh ranh giới giữa tối và sáng, chẳng hạn một ngọn núi che khuất mặt trời, hay một đám mây, một tia chớp tạo ra bởi sự va chạm giữa các đám mây. Màu sắc được thấy lúc bình minh hay trong tia sáng yếu ớt cuối cùng của hoàng hôn sắp tắt.

Săn tìm những cạnh của ánh sáng sẽ giúp bạn có tấm ảnh tuyệt vời. Cho dù nó có thể thấy ở bất cứ lúc nào trong ngày, với nhiều nhà nhiếp ảnh thời điểm tuyệt vời nhất là lúc hoàn hôn, khoảng 30 phút trước khi mặt trời lặn hẳn. Lúc đó nó tạo nên màu sắc thật sự huyền diệu, nó là khoảng khắc “trong mơ” của một ngày.

Trong khoảng thời gian này, giữa lúc tranh tối tranh sáng, một phần của bầu trời chiếu sáng bởi mặt trời, và khối không khí phía trên tạo nên sự phản xạ khổng lồ hắt ra một luồng ánh sáng êm dịu, mềm mại lên chúng ta. Nó tinh tế và đôi khi nhiều màu sắc tới ngạc nhiên.

Chạng vạng là một cảnh quan tuyệt vời nhất mà chúng ta chứng kiến xảu ra khi bình minh hoặc hoàng hôn. Việc để chế độ phơi sáng (long exposure) là cần thiết để bù đắp lượng ánh sáng yếu, trong khi những đám mây, vài ngọn cây, tán lá sẽ di chuyển tạo ra một cảm giác mờ ảo.

7. Khoảng khắc vàng

Canon EOS 5D Mark II, Canon EF 17-40mm ƒ/4L USM, ISO 100, ƒ/16, 0.4 sec.

Nhiếp ảnh thiên nhiên là một bài tập về sự kiên nhẫn tìm kiếm những sự hội tụ của những khoảng khắc, hai hay nhiều yếu tố tự nhiên đến với nhau một cách thú vị.

Sự hội tụ như vậy thường là thoáng qua. Nhiếp ảnh gia hàng đầu Henri Cartier-Bresson đã mô tả nhiếp ảnh là ghi lại “thời điểm quyết định”, trong đó hội tụ những đặc điểm đỉnh cao của nó.

Lý tưởng nhất là khi thấy thời điểm chuẩn bị tiết lộ điều gì đó về đặc tính của cảnh thì chụp ngay lập tức. Thời điểm quyết định luôn cần sự kiên nhẫn, cống hiến, là cốt lỗi của các “thợ săn ánh sáng”

Nếu bạn không chắc chắn khi thời điểm quyết định xảy ra, thì hãy ngồi xem lại sau đó và tìm hiểu kỹ hơn về chủ đề của bạn. Nhận biết những tính chất, quy luật, nhịp điệu của nó. Tạo nên sự kết nối với thế giới tự nhiên và tôi đảm bảo bạn sẽ có thể đoán được thời điểm quyết định sẽ xảy ra xung quanh.

Cứ tìm hiểu thiên nhiên, tất cả sẽ vào đúng vị trí của nó.

8. Thông minh hơn

Canon EOS 5D Mark II , Canon EF 24-105mm ƒ/4L IS USM, ISO 100, ƒ/11, 1/4sec.

Phương châm của tôi là “làm việc thông minh hơn, không khó hơn – work smater – no harder”. Một “thợ săn ánh sáng” thông minh cần hiểu về thời tiết và làm thế nào để nắm bắt khoảng khắc ánh sáng ở đúng nơi, đúng chỗ, đúng thời điểm.

Mặc dù mỗi địa điểm có một đặc điểm thời tết riêng. Dưới đây là một số hướng dẫn chung.

Đám mây che một phần bầu trời là cơ hội tốt nhất để chụp bình minh và hoàng hôn đầy màu sắc. Khi đám mây có những khoảng trống ở giữa, là những cơ hội tạo ra những đường sáng tuyệt đẹp.

Thời gian tốt nhất để bắt ánh sáng chính là lúc trời quang sau cơn bão, đặc biệt là hoàng hôn và bình minh. Dự báo thời tiết có thể là một phương tiện giúp bạn chủ động hơn với thời tiết. Không có gì tồi tệ hơn khi mà đứng tại một điều kiện thời tiết thú vị mà bạn không thể ghi lại nó.

9. Tạo dòng chảy thị giác (flow visual)

Trong bất cứ tác phẩm nào việc dẫn mắt người xem tới chủ đề chính luôn là yếu tố quan trọng trong bố cục.

Việc tạo flow visual là cách mà mắt sẽ nhìn một đối tượng này tới đối tượng khác một cách liên kết, đồng thời tạo ra một cảm giác phối cảnh ba chiều cho dù bản thân bức ảnh là hai chiều.

Một số thành phần có thể tạo ra flow visual như Đường cong tạo ra sự sạng trọng, hài hòa, Ziczac tạo ra năng lượng khi buộc mắt qua lại, vòng tròn hay vòng cung thu hút con mắt. Ngoài ra sử dụng yếu tố lặp đi lặp lại cũng là một cách sử dụng hiệu quả.

Mục tiêu của bạn là dẫn mắt người xem vào một hành trình thị giác. Thường xuyên tìm cách nắm rõ sự năng động của thiên nhiên và dẫn dắt mắt người xem tới yếu tố quan trọng nhất trong bức ảnh.

10. Dậy sớm, ở lại muộn – Đổi giấc ngủ lấy ánh sáng

Điều này cơ bản là một tiền đề. Nhiếp ảnh gia thiên nhiên thành công không nhiều vì hầu hết tất cả muốn có một giấc ngủ ngon. Trong khi cái gọi là “giờ ma thuật” chỉ xảy ra khi mặt trời mọc, hoàng hôn khi mà bầu khí quyển lọc ánh sáng mặt trời, tán xạ ra ánh sáng xanh, tạo ra những màu ấm áp như đỏ, cam, vàng.

Điều này là hiển nhiên, nhưng tôi không bao giờ hết ngạc nhiên khi nhiều nhiếp ảnh gia khát khao các khoảng khắc đẹp lại từ chối kéo mình ra khỏi giường vào buổi sáng.

Hạn chế thiết bị của bạn

Có phải thiết bị là điều quan trọng cho công việc của bạn? Nhưng đôi khi đem quá nhiều có thể gây phiền phức. Lần tới bạn thử bài tập này: Đi chụp chỉ với một ống kính (không nên mang 10x zoom). Trong suốt một ngày với tiêu cự hạn chế, không bộ lọc, không thiết bị khác.

Điều này giúp bạn không bị phân tâm bởi các thiết bị, bạn sẽ tập trung suy nghĩ của mình vào những gì cần chụp, giống như chỉ một cây búa và 1 cái đinh, tất cả điều còn lại là tập trung và bấm máy.

Ian Plant is a widely published professional nature photographer and writer and an instructor. To see more of Plant’s images, read his daily photoblog or learn more about the topics discussed in this article, his photo workshops and his instructional e-books, visit http://www.ianplant.com.

iDesign.vn dịch từ outdoorphotographer

Bố cục ảnh, những điều nên biết


Bố cục ảnh, những điều nên biết

 

A.Năm công thức kinh điển của bố cục:
1.Không bao giờ đặt chủ đề vào giữa tâm bức ảnh
2.Mọi bức ảnh chỉ có một và một điểm mạnh duy nhất
3.Đường cong chữ S là một trong những thủ pháp bố cục được ưa chuộng nhất
4.Luôn luôn dẫn ánh mắt của người xem đi vào bên trong hình ảnh
5.Đường chân trời không bao giờ cắt ngang chính giữa mà luôn nằm ở một phần ba phía trên hoặc phía dưới.

 

Một điều nữa em muốn nói là các quy tắc, định luật… chỉ giúp cho chúng ta chụp được tấm ảnh hài hoà, đúng sáng… chứ không phải là tất cả để cho ta một bức ảnh đẹp,độc đáo… Nhiều nhà nhiếp ảnh ủng hộ cho sự sáng tạo, họ ví von những quy tắc, định luật… giống như cái xe để tập đi. Khi chúng ta biết đi rồi mà lúc nào cũng khư khư bám vào nó thì chẳng khác nào người chưa biết đi vậy.

Về chủ đề này em sẽ có bài viết về Lịch sử nhiếp ảnh và sự ảnh hưởng của hội hoạ ở thế kỷ 19, đồng thời sẽ đề cập đến “phản ứng thẩm mỹ”“phản ứng xúc cảm”. Đây chính là mấu chốt của vấn đề cần sáng tạo trong bố cục.
Còn về năm công thức kinh điển của bố cục là căn cứ trên tài liệu của các nhiếp ảnh gia nước ngoài. Họ còn trình bày cả về 6 nguyên tắc cơ bản bố trí các yếu tố của bố cục . Theo em nghĩ Sohoa.net có tham khảo và đã có bài viết 6 yếu tố căn bản trong bố cục ảnh kèm thêm ảnh, trong đó có nói đến 5 năm công thức này ở dạng “tỷ lệ vàng”. Các Bác có thể tham khảo ở đây nhé:
Không bao giờ đặt chủ đề vào giữa tâm bức ảnh qua bức ảnh nổi tiếng của Anh Longpt (thiếu nữ đang đạp xe ý), hay Gone with the wind của Bác atkinson. Ngoài kỹ thuật lia máy hai tác giả đều đặt chủ đề về phía bên phải (ngược với hướng chuyển động cua chủ đề).
Luôn luôn dẫn ánh mắt của người xem đi vào bên trong hình ảnh thì Bác tham khảo luôn bức Sunrise. Bay bridge, San Francisco của Bác thanh. Đường dẫn để người ta ngắm cây cầu là cái bờ tối đen bên trái bức ảnh.
Thực ra chủ đề này em có ý định viết vì đọc bài của Anh TheAmateur hướng dẫn về “Định luật một phần ba” . Tiện đây em cũng đăng các tài liệu để các Bác hiểu rõ nguồn gốc, sự kỳ diệu về “Tỷ lệ vàng”, chính vì vậy không phải ngẫu nhiên trong hội hoạ, kiến trúc và nhiếp ảnh sử dụng nó.

Trước hết đó là khái niệm Con số Vàng

Chúng ta hãy quan tâm đến ba con số đầu tiên là 1,2 và 3 (hay được người Á Ðông chú ý đến). Ngoài số 1 là đơn vị, thường cùng để chỉ một ngôi vị chí tôn, người ta hay dùng số 2 để chỉ Ðất và số 3 để chỉ Trời. Căn nhà Việt Nam khi xưa thường cất có 3 gian, 2 chái, bao gồm có sân hoa ở giữa. Như thế có nghĩa là thuận hòa được cả Trời và Ðất. Về kích thước thành hình chữ nhật, người ta thường dùng khuôn khổ cho khung cửa khi xây cất nhà, hay kích thước lá cờ biểu tượng cho quốc gia, theo tỷ số 3/2, nghĩa là nếu lấy chiều ngang là 2, thì chiều dài phải là 3 đơn vị. Hình chữ nhật mà có cạnh theo tỷ số 3/2 = 1,5 thường được coi như là một hình đẹp mắt. Chính vì vậy không phải ngẫu nhiên thẻ ATM, lá cờ các quốc gia trên thế giới hay cả khung hình của nhiều bức ảnh… có nhiều nét tương tự tỷ lệ này.

 

Những nguyên tắc bố cục cổ điển (Tỷ Lệ Vàng)
- Đường chân trời ở 1/3 hoặc 2/3 chiều cao bức ảnh.
- Mỗi khuôn hình chỉ có một điểm mạnh.
- Điểm mạnh này không đặt giữa ảnh mà phải ở toạ độ 1/3 rộng x 1/3 cao.
- Hướng ánh mắt người xem từ ngoài vào trong bức ảnh.
- Tận dụng nét lượn chữ S nếu có trong bối cảnh.

Biết bố cục, chụp đúng theo quy tắc về bố cục là khó- chụp theo kiểu phá bố cục mà đẹp được mới là khó hơn.

 

6 yếu tố căn bản trong bố cục ảnh
Nếu như vẽ tranh là hoạ sỹ đưa dần vào khung toan trắng những nét cọ để tạo ra nội dung và bố cục của nó thì trong nhiếp ảnh, người ta làm công việc ngược lại. Trong bố cục ảnh, có 6 chuẩn mực để bạn dựa vào, nhưng để các tấm ảnh có hồn, thu hút và tránh nhàm chán rất cần tới sự vận dụng linh hoạt.
Cả hội hoạ và nhiếp ảnh đều là nghệ thuật truyền tải thông tin thị giác và chịu sự chi phối của những nguyên lý căn bản về cảm nhận thực thể bằng ánh sáng. Nhưng nếu hội hoạ là nghệ thuật tổng hợp thì nhiếp ảnh là kỹ thuật phân tích. Khi vẽ tranh, hoạ sỹ đưa dần vào khung toan trắng những nét cọ để tạo ra nội dung và bố cục của nó. Nhưng trong nhiếp ảnh, người ta làm công việc ngược lại…
Với bối cảnh thực có sẵn nội dung và bố cục, tay máy phải thay đổi góc nhìn, sử dụng ống kính wide hay tele, xoay trở khuôn hình để chọn lọc những yếu tố xây dựng lên bức ảnh. Tuy nhiên, dù là thêm vào hay bớt đi các mảng khối trong khuôn hình, cả hội hoạ và nhiếp ảnh đều hướng tới cách xếp đặt hiệu quả nhất để thể hiện nội dung các tác phẩm. Trong kết quả cuối cùng, ở mức độ nào đó, cả tranh vẽ và ảnh chụp đều được đánh giá bởi một chuẩn mực về bố cục.
Khi đánh giá một bức ảnh, người ta xem xét nó trên những yếu tố căn bản về nội dung, màu sắc, trạng thái và hiệu ứng quang học. Nếu bố cục được nhấn mạnh trong khi các yếu tố khác bị khoả mờ, bản thân nó có thể là chủ đề của nhiếp ảnh.
Hầu hết các yếu tố căn bản này giúp truyền tải thông tin thị giác như điểm và đường nét, hình dạng, màu sắc, chất liệu bề mặt và độ tương phản đều liên quan đến bố cục bức ảnh. Người chụp ảnh dựa trên những nguyên tắc này để phát triển kỹ năng sắp xếp các đối tượng trong khuôn hình.

Tìm ra tiết tấu hay mô thức xếp đặt trong bối cảnh
Đó là kỹ thuật rút ra logic về vị trí, sự xếp đặt các vật thể trong khuôn hình, chọn được góc đặt máy tốt nhất phản ánh tiết tất và mô thức trên các vật thể. Kỹ thuật này rất phổ dụng đối với ảnh kiến trúc, giao thông, dây chuyền sản xuất… Việc phát hiện logic xếp đặt trong một bối cảnh lớn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng quan sát và xâu chuỗi của tay máy. Tuy nhiên, việc lạm dụng tiết tấu, thiếu suy ngẫm và phân tích sẽ dẫn đến những bức ảnh dập khuôn nhàm chán. Việc áp dụng hiệu quả bố cục này phải đi liền với các hiệu ứng ánh sáng, tạo bóng và góc đặt máy khác thường.
Ví dụ, một hàng cột tròn đều tăm tắp và sáng rõ trong nắng trưa sẽ không thể đẹp bằng bức ảnh chúng đứng trong ánh sáng xiên thấp hơi lệch phương ống kính. Nhờ nắng tạt ngang, bóng cột sẽ đổ dài tạo một hàng cột nữa nằm dưới đất, thân của chúng sẽ được “vê” tròn lẳn vì hiệu ứng chuyển sáng tối. Nếu đặt máy thật thấp dưới chân hàng cột với ống kính góc rộng, đầu của chúng sẽ sẽ chạm vào nhau và lao vút lên trời, rất thú vị. Nhiều khi các tiết tấu lại xuất hiện cùng hiệu ứng quang học và chỉ tác động vào ống kính ở một góc nhìn nhất định, vấn đề là phải tìm tòi và sáng tạo.

Thể hiện được kích cỡ vật thể hoặc khoảng cách
Kỹ thuật này giúp người xem ảnh hình dung kích thước của vật thể trong khuôn hình. Sử dụng tốt phép so sánh chênh lệch về kích thước có thể nêu bật được độ lớn của đối tượng trong bức ảnh. Ví dụ, nếu muốn minh hoạ độ lớn của một con voi nên đặt chú sáo bé như hạt gạo trên lưng nó. Ngược lại, khi chụp macro một bông hoa nhỏ, người ta nhấn mạnh mức phóng đại của bức ảnh bằng một chú kiến vàng lớn như con ong chúa. Vật thể làm mẫu so sánh nên thuộc loại hình ảnh quen thuộc, dễ hình dung kích thước như con người, ôtô, que diêm, cái bút… Có thể dễ dàng nhận thấy hiệu quả của thủ pháp so sánh khi xem những thước phim hoạt hình kinh điển về người khổng lồ, tí hon. Tay máy khi đứng trước bối cảnh hoành tráng hay vật thể quá lớn, anh ta dễ bị ngợp tới mức quên mất là cần một vật thể so sánh. Kết quả là bức ảnh sẽ còn cảm xúc mà anh ta đã trải nghiệm, mọi thứ sẽ chỉ giống như cảnh trên bàn hay những món đồ chơi của trẻ con.

Tạo sức hút cho điểm nhấn của bức ảnh
Vùng trọng tâm hay điểm nhấn của bức ảnh được thể hiện bằng kỹ thuật tạo độ tương phản, hay đường dẫn hướng. Theo nguyên lý thị giác thì điểm tương phản nhất trong khuôn hình sẽ thu hút thị giác, vùng xẫm sẽ nặng và hút mắt hơn khoảng nhạt trắng. Mặt khác, ánh mắt người xem cũng sẽ di chuyển theo hướng chiếu của tia sáng trong khuôn hình, tức là đi từ chỗ nhạt nhất đến chỗ đậm nhất. Những đường cong, nét chéo kết thúc tại điểm nhấn sẽ dẫn ánh mắt người xem đến đó. Tuy nhiên, chúng cũng có thể gây hậu quả phân tán và khó hiểu nếu chỉ lệch hướng tới chủ đề chính.

Trong bố cục cổ điển, điểm mạnh của bức ảnh thường được đặt ở toạ độ giao nhau của đường 1/3 dọc và 1/3 ngang bức ảnh (gần 4 góc khuôn hình). Cách sắp xếp này đặc biệt phù hợp với cỡ phim 35 mm. Nhiếp ảnh hiện đại không bị lệ thuộc vào những công thức cổ điển. Thậm chí, những tay máy cách tân còn cố tính đặt chủ đề vào những vị trí oái oăm và điều đó lại gây sự chú ý và ấn tượng về bức ảnh. Thực ra, những tay máy này phải rất hiểu về Tỷ Lệ Vàng để có thể làm điều ngược lại và tạo nên hiệu quả thú vị. Giá trị cao nhất mà nhiếp ảnh hiện đại nhắm tới không hoàn toàn là cái đẹp, mà là cảm xúc và ấn tượng.

Đặc tính về cân bằng và trạng thái
Sự cân bằng trong bức ảnh sẽ quyết định trạng thái tĩnh hoặc động của nó. Nếu thủ pháp sử dụng đường chân trời nằm ngang chính giữa bức ảnh nhằm tạo nên cảm xúc tĩnh lặng, thì khi đặt nghiêng, đưa lên cao hay hạ xuống thấp sẽ cho hiệu quả động. Bức ảnh nhiều trời ít đất thì tạo cảm xúc nhẹ nhõm thanh cao. Còn khi đảo tỷ lệ này, những hiệu quả sẽ ngược lại. Mắt người xem có một đặc tính là bị thu hút theo hướng chuyển động của chủ đề. Do vậy, trong bố cục cổ điển các chuyển động phải hướng vào trong bức ảnh. Nhưng các nhiếp ảnh gia hiện đại lại không muốn người xem thấy ngay mọi thứ, họ đòi hỏi sự quan sát và suy ngẫm về thông điệp của bức ảnh, nên họ có thể không tuân thủ quy tắc này.
Sự cân bằng cũng bị chi phối bởi màu sắc, một chấm vàng tươi bên phải sẽ nặng bằng cả một mảng nhạt trắng. Cách lấy một diện tích nhỏ có sức hút mạnh để tạo ra sự cân bằng với một mảng lớn nhẹ nhõm hơn sẽ tạo ra trạng thái cân bằng động – một bố cục khá phổ biến trong nhiếp ảnh.

Chụm vào tản ra
Những nguyên tắc bố cục cổ điển (Tỷ Lệ Vàng):
- Đường chân trời ở 1/3 hoặc 2/3 chiều cao bức ảnh.
- Mỗi khuôn hình chỉ có một điểm mạnh, điểm này không đặt giữa ảnh mà phải ở toạ độ 1/3 rộng x 1/3 cao.
- Hướng ánh mắt người xem từ ngoài vào trong bức ảnh.
- Tận dụng nét lượn chữ S nếu có trong bối cảnh.

Việc sử dụng hình tròn hay những đường cong kín tạo nên sức hút khá mạnh và gây hiệu ứng hợp nhất – phương pháp thể hiện tốt những hiện thực đơn lẻ như bông hoa, mạng nhện… Khi được sử dụng hợp lý, bố cục này sẽ hướng sự chú ý vào giữa tâm của nó. Mục tiêu hợp nhất vào điểm mạnh còn có thể được thực hiện bởi nhiều đường dẫn hướng tới đối tượng chính (ví dụ: nút giao thông). Không cần phải là những nét dẫn thực thể, ánh mắt tập trung của các sinh vật trong khuôn hình cũng sẽ định hướng sự quan sát của người xem ảnh.
Thủ pháp bố cục phân tán thường được dùng để diễn giải những nội dung trừu tượng như: giận dỗi, làm ngơ, đa dạng, hỗn loạn… Đi liền với kỹ thuật này là ống kính góc rộng, bao quát nhiều cụm đối tượng mạnh tương đương. Ví dụ, bức hình chụp từ trên xuống một trung tâm giao dịch chứng khoán, hay một cái chợ ngoài trời đông đúc.

Phản ánh chiều sâu không gian
Là một thủ pháp rất hiệu quả để khắc phụ bản chất phẳng dẹt của bức ảnh. Một bố cục khéo léo có thể làm khuôn hình trở nên sâu hút, cũng có thể khiến chủ đề nổi bật hình khối trên một bối cảnh mờ nhoà. Nhiều khi một bức ảnh nét suốt từ cận cảnh tới vô cự không tạo cảm giác sâu bằng bức macro nét cạn, chính phần vật thể bị mờ lại tạo cảm giác về hình khối và chiều sâu không gian. Một bức ảnh bố cục tốt có thể bao gồm nhiều lớn không gian với các tone màu và cường độ chiếu sáng khác nhau. Kỹ thuật phổ biến là sử dụng cận cảnh làm khuôn hình, nhưng nếu không tìm được những mẫu khung đặc biệt thú vị thì bức ảnh khó mà thoát ra khỏi sự nhàm chán.

 

Yếu tố phụ trong bố cục
Phần trên tôi đã có nói qua về quan điểm bố trí chủ đề hay yếu tố chính của bố cục theo tỷ lệ vàng (dùng hay không dùng, áp dụng, vận dụng được hay không là do quan điểm của mỗi người sử dụng). Nhưng ngoài chủ thể ra các chủ đề phụ cũng không kém phàn quan trọng, nó là yếu tố quyết định để so sánh, để hỗ trợ tôn nên vẻ đẹp của chủ thể. Như thể hiện bông hoa thắm tươi, chúng ta thường chụp với cành, lá hay nhưng vật trang trí kèm theo… nhưng thứ đó được coi như yếu tố phụ (thực ra để rạch ròi nhiều nhà nhiếp ảnh còn phân chia thành hai loại: yếu tố phụ và bối cảnh).

Các yếu tố phụ này được chi làm 04 loại:
(1) Tiền cảnh
(2) Hậu cảnh
(3) Bầu trời
(4) Đường chân trời

1. Tiền cảnh:
Tiền cảnh trong bức ảnh thể hiện sự gần gủi, tính phàm tục: Một cành hoa bé khi chụp phong cảnh, một khóm khoai trước chú vịt… Đôi khi ta phải dùng tiền cảnh để che bớt những vật phụ khác trông không đẹp trong bức ảnh.

Kỹ tthuật để “xử lý tiền cảnh” là:
- Tiến lại gần hay chúc máy, ngửa máy để lấy nhiều hay ít tiền cảnh.
- Dùng ống kính góc rộng làm tăng tiền cảnh hay ống kính tele làm giảm tiền cảnh.
- Dùng tiền cảnh để gióng khung hình cho ảnh. Chẳng thế mà các bạn có thể thấy rất nhiều ảnh dùng vòm cổng, ngưỡng cửa, cửa sổ các nhánh cây.. để gióng khu cho ảnh.
- Tạo sự tương phản giữu xa và gần thông qua đậm và nhạt, thường tiền cảnh tối hậu cảnh sáng…

 

2. Hậu cảnh
Thực ra nếu đã xác định rõ chủ thể thì tất cả cái khác trong bức ảnh được gọi lại “hậu cảnh”. Phân biệt chỉ mang tính tương đối. Ví dụ nếu chụp chân dung thì người đó là chủ đề chính, cây cối, nhà cửa … phía sau là hậu cảnh. Điều tối kỵ theo quy tắc truyền thống là không được phép để chúng hoà trộn lẫn nhau, dẫn đến tình trạng cái tượng đằng sau như ngồi lên đầu người, cái cây đằng sau như mọc từ đầu người, cái bảng hiệu quảng cáo như xắp rơi xuống đầu người…

Kỹ tthuật để “xử lý hậu cảnh” là:

Chiếu sáng là cách hữu hiệu khi chụp dàn dựng, bất cứ thứ gì nếu được chiếu sáng đều sẽ nhạt hơn trong vùng tối. Néu không phải lợi dụng các nguồn sáng chiếu qua khe cửa, lỗ thủng… (vì vậy càm la bàn để biết hướng ánh sáng sẽ chẳng bao giừo thừa cả). Chụp phong cảnh nhiều khi phải đợi mây làm xậm hậu cảnh để làm nổi bật chủ đề chính…
Canh nét cạn cũng rát phổ biến để “cắt đuôi” hậu cảnh ra khỏi chủ thể, đây chính là cách sử dụng sự tương phản giữu mờ và tỏ. Canh nét cạn bằng cách:
- Tiến gân chủ đề
- Để khẩu độ nhỏ (1; 1.4; 2; 2.8…)
- Dùng ống tele…
(Cái này tôi đã trình bày trong DOF và sẽ nói lại trong mục “Nhìn theo con mắt của máy ảnh”

Lia máy (panning) cũng là cách tạo tương phản giữa tỏ và mờ. Lia máy là cách chụp các chủ đề đang chuyển động với vận tốc tương đối ổn định. Người càm máy di chuyển máy theo sự di chuyển của chủ đề và bấm chụp. Lúc đó, chủ đề sẽ rõ nét trên một hậu cảnh mờ nhoè nhằm tạo ấn tượng di chuyển của chủ đề (cái này tôi cũng được xin phép trình bày trong mục Làm chủ tốc độ trong “Nhìn theo con mắt của máy ảnh”)

Nikkor, câu chuyện nghìn lẻ một đêm


I. Lịch sử các loại ống kính Nikon

Đặc điểm của ống kính Nikon
Ngay từ thời kỳ đầu tiên thì thiết kế dạng ngàm đã được áp dụng trên tất cả các ống kính Nikon sử dụng cho máy ảnh dạng gương phản chiếu ống kính đơn (SLR – Single Lens Reflex), từ dòng đầu tiên Nikon F giới thiệu năm 1959 và không thay đổi cho đến tận hôm nay. Và điều này đã giúp cho rất nhiều người sở hữu ống kính Nikon rất xa xưa có thể gắn trên những thân máy kỹ thuật số đời mới nhất hay ngược lại.
• Thiết kế ngàm 3 chấu giúp gắn chặt vào thân máy nhưng cũng giúp cho việc tháo lắp dễ dàng khi thay đổi ống kính.
• Đường kính của đuôi ống kính khá lớn cho phép thiết kế các lọai ống kính có độ mở lớn.
•Hướng gắn ống kính vào thân máy tại vị trí 3 giờ đồng hồ và xoay ngược kim đồng hồ đến khi nghe tiếng click, lúc ấy lens đã gắn chặt trên thân máy.
• Vòng khẩu độ có một lẫy ở vị trí 9 giờ đồng hồ giữ cho việc đóng mở các lá khẩu độ tự động. Lẫy này tiếp xúc với thân máy thông qua một thiết bị cơ khí giúp cho khẩu độ mở tối đa hỗ trợ việc ngắm đối tượng chụp ảnh qua ống kính với mức độ ánh sáng đi vào lớn nhất cho phép, tuy nhiên khi chụp ảnh thì lẫy sẽ tự động dừng đúng vị trí khẩu độ mà người chụp đã thiết lập trước.
• Độ mở khẩu độ được đánh số từ tối đa đến tối thiểu theo chiều kim đồng hồ.
• Vòng tiêu cự được thiết kế xoay ngược chiều kim đồng hồ từ vô cực đến cự li gần nhất (trừ loại 45mm/2.8 GN).
• Ống kính luôn luôn được tiện răng phía trước để hỗ trợ gắn filter và các thiết bị đấu nối khác.

Ống kính loại A – A Type
Đây là lọai đầu tiên nhất được giới thiệu từ năm 1959 cho dòng máy Nikon F. Loại A đại diện cho ống kính không có multicoated và tồn tại trong khỏang 10 năm. Có rất nhiều phiên bản của loại này do được cải tiến trong những năm đầu. Trong số đó thì lọai đầu tiên nhất Tick Mark lens http://cameraquest.com/nftick.htm rất có giá trị sưu tầm. Dưới đây là một số đặc điểm nhận dạng lọai A này:

• Vòng chỉnh tiêu cự bằng kim lọai sơn màu đen với các gờ xoay lớn (heavy rib). Riêng lọai zoom thì vòng chỉnh zoom/tiêu cự bằng cao su có gờ nổi hình kim cương.
• Vòng chỉnh khẩu độ bằng kim lọai màu đen.
• Thân ống kính bằng kim lọai chrome.
• Ngạnh tai thỏ được gắn trên lens để hỗ trợ việc đo sáng trên thân máy tương ứng với khẩu độ được thiết lâp.
• Ống kính được khắc chữ “NIKKOR” và 1 ký hiệu chỉ số lượng thấu kính trong ống kính. Ký hiệu đó bao gồm U, B, T, Q, P, H, S, O, N
Thuật ngữ “Auto” trên ống kính thông báo hỗ trợ đóng mở các lá khẩu độ tự động, tiếp theo là khẩu độ mở tối đa, kế đến là tiêu cự và số serial:
NIKKOR-S Auto 1:1.4 f=50mm Nippon Kogaku Japan No.392393

• Single coating áp dụng cho thấu kính nên bạn có thể thấy màu sắc phản chiếu khi nhìn vào lăng kính có màu xanh nhạt hoặc hồng tía.
• Đường kính tiêu chuẩn 52mm cho filter.
Ống kính loại C – C Type
Kể từ năm 1971 thì Nikon đã bắt đầu đưa ra các dòng ống kính mới được nâng cấp với multi-coated (C) thấu kính. Multicoating giảm thiểu sự phản xạ ánh sáng giữa các bề mặt của thấu kính, điều này lọai bỏ đến mức thấp nhất bóng ma và tình trạng lóe sáng, tăng sự hấp thụ ánh sáng, độ tương phản và tái tạo màu sắc trung thực. Multicoating đặc biệt hữu hiệu cho các lọai ống kính có nhiều thấu kính như zoom hoặc góc rộng. Hầu hết ống kính loại C được phát triển từ A với multicoating mà không có sự thay đổi lớn về cấu trúc thiết kế.
• Thấu kính được multicoated, thường có màu xanh sẫm hoặc màu tía.
• Được phân biệt bởi ký tự “C” sau mã ký tự chỉ số lượng thấu kính:
NIKKOR-H.C Auto 1:2 f=50mm 2294926 Nikon
• Ống kính multicoated đầu tiên là 35/1.4 sau đó là 28/2.
• Thân ống kính và vòng gắn filter màu đen cho tất cả chủng lọai ống kính.
• Những đặc điểm khác tương tự lọai A.

Ống kính loại K – K type (‘New’ Nikkors)
Năm 1974 Nikon giới thiệu một lọat các cách tân về thiết kế và hình dáng cho dòng ống kính của hãng. Rất nhiều ống kính được thiết kế lại từ thấu kính, hệ cơ khí cho đến chất liệu, kết quả là ống kính nhỏ hơn, nhẹ hơn so với các dòng trước đây. Năm này Nikon cũng lần đầu tiên đưa ra thấu kính Extra-low Dispersion (ED) và giới thiệu kỹ thuật lấy nét bên trong Internal Focusing (IF).
• Vòng chỉnh tiêu cự bằng cao su màu đen với các gờ nổi hình chữ nhật mang lại sự thuận tiện và chắc chắn khi lấy nét. Riêng ống kính zoom thì các gờ nổi hình vuông.
• Vòng chỉnh khẩu độ với gờ nổi hình vuông.
• Thông số xuất hiện trên ống kính:
NIKKOR 50mm 1:2 3167736 Nikon
• Thông số về khoảng cách tính bằng feet được khắc là ‘ft’ thay vì ‘feet’.

• Đuôi của ống kính sử dụng 5 ốc vít kiểu philips (lọai ốc có 1 rãnh chạy dọc).
• Hầu hết ống kính có 7 lá khẩu độ, chỉ có vài ống kính là có 6 lá (ví dụ 50/2 and 55/3.5 micro).
• Ống kính có thấu kính ED sẽ có 1 dải màu vàng chạy vòng quanh miệng ống kính và được khắc chữ ‘NIKKOR*ED’.

Ống kính loại AI – AI type
Giới thiệu năm 1977, đây là năm mà Nikon có những cải tiến đáng kể đến thế hệ ống kính đời F kể từ năm 1959. Ống kính đời AI có một ngạnh tiếp xúc với hệ thống đo sáng trên thân máy và tự động đánh chỉ số khẩu độ Aperture Indexing (AI). Trước đây khi ống kính được gắn vào thân máy thì người sử dụng phải điều chỉnh ngạnh tai thỏ ở vị trí f/5.6 để tiếp xúc với kim đo sáng ở trên thân máy. Với thiết kế mới này thì người sử dụng không cần phải quan tâm về những điều trên khi gắn ống kính nữa, vì vậy thao tác nhanh chóng và chính xác hơn rất nhiều. Rất nhiều ống kính AI được nâng cấp trực tiếp từ dòng K trong thời gian đầu sau đó thì mới có các thay đổi về mặt thiết kế hàng lọat trong những năm sau.

• Hệ thống tự động đánh chỉ số khẩu độ Aperture Indexing (AI) thông qua 1 ngạnh lắp đặt trên vòng khẩu độ.
• Có thêm 1 hàng chỉ số khẩu độ trên ống kính (song song nhưng nhỏ hơn chỉ số khẩu độ chính) để hỗ trợ việc thông báo khẩu độ khi nhìn qua khung ngắm.
• Ngạnh tai thỏ vẫn tồn tại để hỗ trợ việc tương thích với các thân máy đời cũ.
• Vòng chỉnh tiêu cự bằng cao su không tinh xảo bằng đời K. Cao su màu xám thay vì màu đen do đó sẽ mau bạc màu.
• Thay đổi của đời AI so với đời K được phân biệt như sau:
o Dòng chữ LENS MADE IN JAPAN được chuyển thành MADE IN JAPAN.
o Số lượng ốc vít bắt trên đuôi ống kính giảm từ 5 xuống 3 ngọai trừ dòng lens tele tầm xa.

Ống kính loại AI-s – AI-s type
Ống kính AI-s ra đời vào năm 1983 và vẫn được sản xuất cho đến bây giờ.
Ống kính AI-s và AI được phân biệt qua những đặc điểm sau:

• Ống kính AI-s có chỉ số khẩu độ nhỏ nhất (thường là 16 hoặc 22) được ghi màu da cam.
• Những vạch chỉ độ sâu ảnh trường được khắc trên vòng kim loại trắng, còn trên ống kính loại AI thì thường được khắc trên thân ống kính.
• Tất cả các ống kính AI-s đều gắn được vào thân Nikon, kể cả thân AF. Khi gắn vào một số thân máy đời thấp của Nikon, các chức năng đo sáng có thể không hoạt động
• Tất cả các ống kính AI-s cũng là AI. Tất cả các ống kính AF, AF-I và AF-S đều là AI-s. Do đó AI-s thường có giá trị khá cao trên thị trường hàng đã qua sử dụng vì sự thiết kế hòan hảo và chất lượng cao.

Ống kính loại E – Series E
Ống kính lọai E được giới thiệu với máy ảnh Nikon EM năm 1978. Đây là nỗ lực của Nikon tham gia vào một thì trường tiềm năng của những người chơi ảnh nghiệp dư với một lọat các thiết bị nhiếp ảnh giá rẻ cạnh tranh. Được biết đến như là một nhà cung cấp thiết bị nhiếp ảnh cho giới chuyên nghiệp hay người dùng cao cấp, chiến lược này mang lại cho Nikon sự thành công nhất định trong việc tăng trưởng và mở rộng khả năng sở hữu thiết bị máy ảnh của người chơi ảnh. Với cách tiếp cận giá rẻ thì dòng E cũng có những sự đánh đổi ngược lại như là cấu trúc bằng nhựa, thấu kính chỉ là single coated (đại đa số, sau này thì có một số được multi coated). Tuy nhiên về tính năng thì nó vẫn thừa hưởng những công nghệ được áp dụng trên dòng ống kính lọai AI-s và cả cho lọai AF sau này. Nói chung thì về mặt chất lượng thì Series E không thể sánh bằng với những dòng ống kính trước đó nhưng nó vẫn có vài lọai được giới nhiếp ảnh đánh giá rất cao như 75-150/3.5 và 50/1.8.

• Tính năng giống như lọai AI-s nhưng không có ngạnh tai thỏ hỗ trợ cho các máy ảnh đời cũ Non-AI bodies.
• Thân ống kính làm bằng nhựa.
• Ống kính không được ghi nhãn hiệu “NIKKOR” để phân biệt với các thể lọai cao cấp khác, thay vào đó được thể hiện là:
Nikon LENS SERIES E 50mm 1:1.8 2311267
• Single coating áp dụng cho lọat ống kính đầu tiên (35/2.5, 50/1.8, 100/2.8) sau đó đã được multicoated.
• Các ống kính lọai E đều có lá khẩu độ 7 tấm. Các ống lọai E đều có thể lắp vào mọi thân máy Nikon

Ống kính loại AF (AF đời đầu)
Ống kính loại AF được giới thiệu vào năm 1986. Ống kính lấy nét tự động có cơ phận kết nối động cơ trong thân máy với ống kính, ngoại trừ loại ống kính AF-I và AF-S. Cơ phận này cho phép các ống kính cơ tương thích với thân máy AF của Nikon và có hình đầu vít ở đuôi ống kính AF để tiếp xúc với động cơ trên thân máy
Tất cả các ống kính AF đều dựa trên kiến trúc AI-s và có thể gắn được vào các thân máy cơ của Nikon. Đối với những máy trước đời AI như Nikon F, F2 hoặc Nikomat FT, FTN, FT2, cần phải gắn thêm chốt tai thỏ để tương thích ống kính với bộ đo sáng.

• Có 5 chấu tiếp xúc điện tử trên phần đuôi của ống kính với thân máy để điều khiển mạch AF tự động và hệ thống đo sáng.
• Vòng chỉnh khẩu độ bằng nhựa, tương tự như ống kính lọai E, không có vòng bằng kim lọai chrome.
• Vòng chỉnh tiêu cự bằng nhựa và rất hẹp.
• Chốt khóa khẩu độ bằng núm vặn xoay.
• Ống kính được ghi thông tin đơn giản, không có số serial như trước đây:
AF NIKKOR 50mm 1:1.8
• Số serial được khắc chìm trên vòng nhựa chỉnh khẩu độ.

Ống kính loại AF-N
Rất nhiều nhà nhiếp ảnh không thích lọai AF đời đầu bởi vì vòng chỉnh tiêu cự bé xíu và bằng nhựa. Điều này cảm giác như hàng kém chất lượng khi so sánh với các thể lọai ống kính chỉnh tiêu cự bằng tay (manual focus) trước đó. Vì vậy năm 1987 Nikon giới thiệu sự cải tiến cho lọai AF bằng việc thiết kế kiểu dáng mới hơn phân biệt là AF-N (New styling). Trong thời gian này thì kỹ thuật Moulded Aspherical cũng được giới thiệu.

• Có vòng chỉnh tiêu cự rộng hơn với các hoa văn cao su hình chữ nhật, tương tư lọai AI-s.
• Chốt khóa khẩu độ bằng nấc trượt lên xuống.

Nikon ED AF-N 180mm f/2.8. Ảnh minh họa sự khác nhau giữa hoa văn cao su của lọai AF-N và loại A

Ống kính loại P
Sản xuất từ năm 1988 ống kính loại P là dạng ống kính cơ AI-s, tuy vậy trong ống kính có gắn chip và có các chân điện tử như của ống kính AF. Hãng Nikon chỉ sản xuất 3 loại ống kính P đó là 500/4 IF-ED, 1200-1700/5.6-8 IF-ED và ống kính trung bình 45mm f/2.8. Loại ống kính này cho phép sử dụng chế độ đo sáng ma trận và các chế độ phơi sáng của máy AF mặc dù là loại ống kính AI-s.

Ống kính loại AF-D
Giới thiệu năm 1992 cùng với thân máy Nikon F90, những ống kính AF-D cho phép máy có thể xác định được khoảng cách tới đối tượng chụp (D-distance). Những thông tin này bổ trợ cho bộ đo sáng ma trận và đặc biệt là khi dùng với đèn flash để xác định lộ sáng chính xác hơn. Ống kính lọai AF-D tương tự lọai AF-N, đại đa số được nâng cấp tính năng D-distance trực tiếp AF-N. Tất cả các ống kính AF-D đều là AF và AI-s, có nghĩa là những ống kính này có thể gắn được vào thân máy cơ của Nikon.
• Bộ xử lý trung tâm CPU hỗ trợ việc xác định được khoảng cách tới đối tượng chụp và đo sáng ma trận 3 chiều cũng như đo sáng ma trận 3 chiều kết hợp với đèn flash.
• Có thêm ký tự “D” để phân biệt:
AF NIKKOR 50mm 1:1.4 D

Ống kính loại AF nhựa – Plastic AF
Năm 1996 Nikon giới thiệu một thể loại ống kính zoom nhỏ gọn, nhẹ và giá rẻ. Mặc dù loại này được đánh ký hiệu là AF-D, nhưng nó có một vài tính năng khá khác biệt và cấu trúc giản đơn hơn nhiều. Thực chất nó nên được coi là dòng ống kính giá rẻ phiên bản nâng cấp từ Series E cho dòng thân máy AF lấy nét tự động.

• Thân và đế ống kính tòan bộ bằng nhựa Polycarbonate.
• Vòng chỉnh tiêu cự hẹp và không có ô chữ nhật thông báo khỏang cách trên ống kính.
• Loại ống kính này thường được bán kèm theo thân máy dành cho người mới bắt đầu mua máy ảnh (lens kit) bao gồm: 35-80/4-5.6, 28-80/3.5-5.6, 80-200/4.5-5.6, 75-240/4.5-5.6.

Ống kính loại AF-I
Sự chờ đợi mòn mỏi của giới nhiếp ảnh cho dòng ống kính lấy nét tự động tiêu cự dài đã được đáp ứng khi Nikon giới thiệu thể lọai AF-I năm 1992. Lọai ống kính này sử dụng động cơ hỗ trợ việc lấy nét gắn bên trong (Integrated focusing motor), không giống với các thể lọai khác khi lấy nét tự động phải nhờ 1 động cơ trên thân máy. Điều này giúp cho việc lấy nét nhanh hơn, êm hơn và chính xác hơn. Các tính năng khác thì tương tự lọai AF-D.

• Built-in DC coreless focusing motor.
• Ống kính có 10 chấu tiếp xúc điện tử trên phần đuôi của ống kính với thân máy. Hỗ trợ lấy nét tự động trên các thân máy Pronea, F70, F80, F90, F100, F4 and F5 cameras. Với các thân máy khác thì ống kính lọai này chỉ hỗ trợ lấy nét bằng tay.
• Có chức năng M/A switch để hỗ trợ việc can thiệp việc lấy nét bằng tay khi đang ở chế độ lấy nét tự động.
• Nút Focus lock có trên thân ống kính.
• AF-I chỉ có 4 lọai ống kính tiêu cự dài: 300/2.8, 400/2.8, 500/4, 600/4.

Ống kính loại AF-S
Năm 1996 đã bắt đầu thay thế lọai AF-I với một lọat ống kính mới có tính năng cao hơn, gọi là AF-S. Lọai này sử dụng động cơ Silent Wave (S) motor, tương tự như Canon Ultrasonic motor điều này giúp cho việc lấy nét cực kỳ êm và chính xác. Ngọai trừ việc trang bị động cơ motor mới thì các tính năng khác tượng tự lọai AF-I. Tất cả các ống AF-S đều phát triển từ AF-D và AI-s do đó nó có thể gắn vào mọi thân máy cơ của Nikon. Tuy vậy ống kính loại AF-S xe-ri G không phải là AI-s và do đó không làm việc khi gắn vào các thân máy cơ.

• Built-in Silent Wave (S) motor
• Nhẹ hơn lọai AF-I
• Đến nay đã phát triển thêm lọai AF-S G và AF-S DX

Ống kính loại G – G type
Năm 2000 Nikon đã đưa ra 1 lọai ống kính mới được gọi là xê-ri G series. Đây là dạng ống kính AF mói nhất không có vòng khẩu độ (tương tự như các ống kính Canon EF). Như vậy, các ống kính xê-ri G sẽ không làm việc trên các thân máy cơ của Nikon. Tất cả các ống kính G đều là dạng AF-D, nhưng không phải là AI-s.

Tổng kết
Mặc dù có khá nhiều thể loại ống kính cho dòng máy Nikon SLR đưa ra kể từ năm 1959 đến nay nhưng các bạn cũng chỉ cần nhớ 2 loại chính mà mọi người hay đề cập đến đó là Non-AI và AI. Non AI là tất cả các loại trước khi AI giới thiệu, không có auto indexing, kết nối với thân máy phải qua ngạnh tai thỏ và từ AI trở về sau thì hỗ trợ auto indexing, kết nối với thân máy thông qua meter coupling. Đơn giản vậy thôi

Ống kính DX
Những ống kính DX có vùng rọi sáng hẹp hơn các ống AF thông thường khi sử dụng trên các máy SLR. Trong khi đó, tất cả các ống kính AF đều có thể gắn trên các thân máy DSLR.
Những ống kính DX đều nhỏ hơn và có khoảng tiêu cự nhỏ hơn các ống AF khác. Nguyên nhân dẫn đến điều này là do kích thước của CCD trong các máy DSLR của Nikon nhỏ hơn kích thước của phim 35. Các ống kính DX không thể rọi sáng vùng sáng tương ứng với phim 35mm và sẽ làm nguýt vùng rìa của phim 35mm.
Công nghệ giảm rung VR “Vibration Reduction”
Công nghệ này tương tự công nghệ IS của Canon và trợ giúp đắc lực khi phải chụp trong những điều kiện ánh sáng yếu và tốc độ chụp thấp. Trong thân ống kính có hệ cơ phận giảm rung. Hệ thống giảm rung có tác dụng giảm hoặc loại bỏ hiện tượng nhòe ảnh do những chuyển động nhỏ không mong muốn gây nên như rung máy, chụp trên xe chuyển động, khi chụp với những tốc độ thấp. Hệ thống này có trong một số ống kính của Nikon, đầu tiên là trong ống AF 80-400VR f4-5.6, sau đó là các ống 300 f2.8 VR, 70-200 f2.8 VR, 24-120 VR f3.5-5.6, AF 200 f2.0 VR.
Hệ thống VR làm hoạt động bằng cách hiệu chỉnh hệ thống thấu kính sao cho cân bằng các sự rung động máy. Giả thiết rằng, khi máy đứng yên, ảnh của đối tượng A sẽ hội tụ tại vùng A* trên mặt phẳng tiêu. Khi máy và ống kính bị rung, ảnh của A sẽ hội tụ tại A’ không trùng với A* và làm cho ảnh bị nhòe. Hệ thống VR sẽ hiệu chỉnh lại vị trí các thấu kính, quang trục của chúng sao cho ảnh của A vẫn hội tụ tại điểm A* . Mỗi hệ thống VR đều có một số thấu kính VR và hệ thống động cơ hiệu chỉnh. Hệ thống thấu kính chống rung không được bắt chặt vào thân ống kính mà được bắt vào một số hệ thống đàn hồi.

Để loại trừ các chuyển động do hiện tượng rung gây ra, vận tốc góc cần được xác định chính xác. Trong hệ thống VR có hai bộ cảm biến để xác định vận tốc góc, một bộ xác định chuyển động theo phương thẳng đứng, một bộ xác định chuyển độngt heo phương ngang. Những dịch chuyển chéo được tổng hợp từ hai chuyển động ngang và thẳng đứng xác định được. Những bộ cảm biến này xác định vận tốc góc tại những thời điểm cách nhau 1/1000s. Những thông số này gửi đến bộ vi xử lý trong ống kính và xác định mức độ hiệu chỉnh cần thiết. Những thông số này sẽ chuyển đến phân hệ VR để thực hiện những hiệu chỉnh này.
Ảnh bị nhòe do rung máy thường xuất hiện với tốc độ chụp chậm hơn 1/tiêu cự đối với máy ảnh cỡ 35mm. Công nghệ VR của Nikon cho phép chụp với tốc độ chậm hơn 3 lần (tương ứng với 3 độ mở )
Khi dùng với tripod, cần phải tắt chế độ VR. Trong trường hợp ngược lại ảnh sẽ bị mờ.
Công nghệ hiệu chỉnh khoảng cách gần CRC “Close Range Correction”
Hiệu chỉnh khoảng cách gần có nghĩa là ống kính sẽ tự động tối ưu hóa vị trí các nhóm thấu kính khi khoảng cách tới vật chụp thay đổi, đặc biệt khi vào gần. Trong những ống kính loại này, các phần tử thấu kính động sẽ dịch chuyển tương ứng so với các thấu kính khác trong quá trình chỉnh tiêu cự. Công nghệ này thường được trang bị cho các ống kính macro hoặc ống kính góc rộng với độ mở lớn, ví dụ như 35 f1.4 AI, 28 f2.8 AI-s, 105 f2.8 AF-D micro, …
Đối với các ống kính góc rộng và ống kính chụp cận cảnh micro, công nghệ này cho phép chỉnh tiêu cự gần hơn mà vẫn giữ được độ sắc nét và độ phẳng thị trường.
Những hình dưới đây minh họa hoạt động của cơ chế CRC

Ảnh trên là của ống kính 28mm f/2.8 AI-s khi chỉnh tiêu cự ra vô cùng. Còn ảnh dưới là khi chỉnh về khoảng cách 0.2m. Ta nhận thấy thấu kính ngoài có dịch chuyển một chút, trong khi đó nhóm thấu kính sau hoàn toàn không chuyển động.
Kính ED
ED có nghĩa là kính có độ tán xạ cực thấp: Extra-low Dispersion glass. Các kính ED bắt đầu được dùng từ giữa những năm 60 của thế kỉ trước. Tất cả các ống kính ED đều được gắn vạch ký hiệu màu vàng.
Trong những ống kính chuyên nghiệp như 80-200 f2.8, kính ED thường được làm từ loại thủy tính quang học đặc biệt. Còn trong những ống kính rẻ hơn như 70-300 AF-D thì kính ED được làm bằng nhựa.
Các kính ED giúp hạ thấp được hiện tượng sắc sai. Đó là hiện tượng khi những bước sóng khác nhau không hội tụ tại một điểm. Ngoài ra một hiệu ứng phụ nữa là làm ảnh sắc nét hơn.
Những kính ED khá nhạy cảm với nhiệt độ, do đó, tiêu cự của các ống kính đó cũng dao động nhẹ khi nhiệt độ thay đổi.
Các thấu kính phi cầu – Aspherical Elements
Hầu hết các thấu kính thông thường có bề mặt là một phần của mặt cầu. Mặt cầu được lựa chọn vì công nghệ chế tạo đơn giản và rẻ. Với những dạng bề mặt phi cầu, công nghệ chế tạo phức tạp và giá thành đắt hơn rất nhiều. Mặt cầu được sử dụng rộng rãi, tuy vậy đây không phải là dạng bề mặt tối ưu cho các thấu kính. Đối với bề mặt quang học dạng cầu, có một dạng quang sai gọi là cầu sai. Cầu sai là sinh ra do những tia sáng song song khúc xạ qua những phần khác của mặt cầu không hội tụ tại cùng một điểm. Điều này làm cho ảnh của một điểm sáng không phải là một điểm mà là một vùng sáng. Hệ quả là làm ảnh bị mất nét. Để khắc phục hiện tượng này, cần phải làm cho bề mặt quang học biến dạng một cách thích hợp nhất cho việc hội tụ ánh sáng hoặc phải dùng nhiều lớp thấu kính để hiệu chỉnh. Trong trường hợp thứ hai, trong kỹ thuật thường dùng các đôi thấu kính đối xứng để giảm hiện tượng cầu sai.
Trong kỹ thuật, công nghệ làm kính phi cầu có một vài dạng sau:

- Dùng công nghệ chế tạo đặc biệt:
Đây là công nghệ tốt nhất và cũng đắt nhất. Các mặt quang học được chế cẩn thận bằng tay. Nikon áp dụng công nghệ này trong những ống kính rất đắt và chất lượng rất cao như: 28mm f1.4 AF-D, 58mm f1.2 NOCT, 20-35mm f2.8 AFD.

- Kỹ thuật dán ghép (Molding)
Cách làm rẻ hơn và tiết kiệm hơn là dùng phương pháp đúc. Những thấu kính dạng này được dùng trong những ống kính đại trà dành cho những người chơi nghiệp dư như ống AF-D 24-120 f3.5-5.6. Có hai phương pháp đúc thấu kính phi cầu loại này:

Thấu kính từ chất dẻo đúc:
Các thấu kính phi cầu được đúc từ chất dẻo. Các thấu kính loại này thường dùng trong các máy P&S để hiệu chỉnh độ cong trong kính ngắm.

Thấu kính từ thủy tinh đúc:
Một phương pháp làm giảm giá thành chế tạo các thấu kính phi cầu là đúc các thấu kính với số lượng lớn thay cho việc hiệu chỉnh từng thấu kính riêng biệt. Phương pháp này cũng làm tăng chất lượng của thấu kính, tuy rằng không lớn. Nikon sử dụng các thấu kính làm bằng phương pháp này trong các ống kính 18mm f/2.8 AF-D, 28-200mm f/3.5-5.6 AF-D, 24-120mm f/3.5-5.6 AF-D. Trong ống kính 28-200 còn có những thấu kính phi cầu lai.

- Phương pháp lai
Một phương pháp chế tạo thấu kính phi cầu cũng khá hiệu quả là dán những lớp mặt phi cầu bằng chất dẻo lên bề mặt kính thủy tinh thông thường. Phương pháp này có giá thành thấp và cũng đạt hiệu quả khá tốt và được sử dụng trong các ống kính 28-70mm f/3.5-4.5 AF-D, 35-105mm f/3.5-4.5 AF-D, 28-200mm f/3.5-5.6 AF-D.
Tráng phủ tích hợp nhiều lớp NIC: “Nikon Integrated Coating”
Nikon là một trong những hãng sản xuất đưa công nghệ tráng phủ nhiều lớp vào các thế hệ ống kính cho máy 35mm. Công nghệ này lần đầu tiên được đưa vào từ năm 1969 và sử dụng cho ống kính 35mm f/1.4. Trong thời kỳ ban đầu, Nikon thường chỉ tráng phủ nhiều lớp cho những ống kính loại tốt, còn hiện nay hầu như ống kính nào của hãng đều được tráng phủ nhiều lớp.
Việc tráng phủ nhiều lớp không chỉ cho phép giảm hiện tượng lóa sáng và hiện tượng bóng, mà còn làm tăng hệ số truyền sáng. Khi sản xuất ống kính với nhiều lớp thấu kính, hiện tượng phản xạ trên các bề mặt thấu kính làm giảm hệ số truyền. Thêm vào đó những tia phản xạ này còn sinh ra hiện tượng lóa và bóng khi phản xạ nhiều lần trong các bề mặt của ống kính. Hiện tượng này đặc biệt ảnh hưởng đến chất lượng của những ống kính zoom vì số mặt quang học nhiều gấp vài lần so với ống kính đơn.
Một ưu điểm nữa của tráng phủ là cho phép hiệu chỉnh về màu sắc của ảnh. Ống kính thường làm sai lệch màu khi cho ánh sáng đi qua, thậm chí cả khi ống kính trông trung tính đối với mắt thường, nhưng một số loại phim như Velvia làm khuếch đại những sai lệch về màu sắc này. Việc thực hiện tráng phủ một cách cẩn thận cho phép nhà thiết kế có thể đạt được độ cân bằng màu cần thiết.
Khi nhìn qua ống kính ta có thể phân biệt được các dạng tráng phủ bằng cách quan sát các ảnh phản xạ trên các bề mặt thấu kính:
- Ống kính không tráng phủ: loại ống kính này thường có trên máy ảnh dùng một lần hay trên các ống kính sản xuất trước chiến tranh Thế giới thứ 2. Những ống kính này cho những ảh phản xạ màu trắng. Ta sẽ nhìn thấy những ảnh phản xạ tương tự như phản xạ trên kính mắt hay kính cửa sổ;
- Kính được tráng phủ một lớp cho ảnh phản xạ thường màu tía, xanh da trời hoặc màu hổ phách;
- Các mặt được tráng phủ nhiều lớp cho các ảnh phản xạ nhiều màu. Phần lớn các màu là xanh lam, đỏ thẫm,… Do các lớp tráng phủ này làm giảm độ phản xạ do đó các ảnh phản xạ trông tối hơn. Mỗi bề mặt quang học của ống kính có thể được tráng phủ những chất liẹu khác nhau. Một số kính lọc cũng được tráng phủ tương tự như thấu kính.
Dưới đây là một số ảnh cho thấy màu sắc của các dạng tráng phủ của Nikon. Dạng tráng với màu đỏ tươi thường là tráng phủ một lớp, còn màu xanh lam thường là tráng phủ nhiều lớp.

600mm f/5.6 AI-s, lớp tráng màu lam;

200mm f/4 AI, lớp tráng màu lam và màu đỏ;

AF 28mm f/1.4D, tráng màu lam và màu xanh dương;

AF 28-85mm, lớp tráng màu lam;

Ghi chú: Hình minh họa trích từ site Ken Rockwell

Ống kính Micro
Đây là ký hiệu rêng của Nikon cho những ống kính chụp macro. Các ống kính cơ micro cho tỷ lệ phóng đại đến 1:2. Các ống kính AF micro cho tỷ lệ đến 1:1. Các ống kính micro AF của Nikon gồm: AF 55f2.8; AF-D 60f2.8; AF-D 105 f2.8; AF-D 200f4.0; zoom AF-D 70-180 f3.5-4.5

Ống kính DC “Defocus Control” – ống kính điều chỉnh bokeh
Những ống kính dạng này không phải là cho tiêu điểm mềm (soft focus) mà thường rất nét. Những ống kính này dành cho những nhà chuyên nghiệp muốn điều chỉnh hiệu ứng của những vùng ngoài tiêu điểm (out-of-focus area). Việc điều chỉnh này không ảnh hưởng tới những phần nằm trong mặt phẳng tiêu điểm mà chỉ ảnh hưởng tới những phần nằm ngoài mặt phẳng tiêu (bokeh). Những ống kính loại này thường điều chỉnh mức độ cầu sai để đạt được những hiệu ứng mong muốn và do đó thường rất đắt và thường dùng để chụp chân dung. Để đạt được hiệu ứng tiêu điểm mềm, vẫn phải sử dụng các kính lọc làm mềm tiêu điểm (soft filters).

Nội chỉnh tiêu (Internal Focusing – IF)
Nội chỉnh tiêu là cơ chế lấy nét chỉ bằng cách dịch chuyển một số nhóm thấu kính bên trong ống kính. Việc lấy nét của các ống kính thông thường thực hiện bằng cách dịch chuyển toàn bộ các nhóm thấu kính ra hoặc vào để lấy nét vào mặt phẳng tiêu cự. Đối với các ống kính tele, khoảng cách dịch chuyển để chỉnh tiêu cự từ xa vô cùng đến gần nhất thường khá lớn. Điều này làm cho quá trình lấy nét của các ống tele thường chậm. Công nghệ nội chỉnh tiêu cho phép các nhóm thấu kính dịch chuyển trên khoảng cách nhỏ hơn, do đó quá trình lấy nét nhanh hơn nhiều so với cách lấy nét truyền thống. Với cách lấy nét này, chiều dài ống kính thay đổi rất ít hoặc hầu như không thay đổi. Công nghệ IF cho phép các ống kính tele có thể điều tiết gần hơn và nhanh hơn các ống kính lấy nét theo cách thông thường. Công nghệ này được Nikon đưa vào trong những năm 70. Hiện nay nhiều ống kính tele và ống kính zoom AF của nikon sử dụng phương pháp lấy nét này. Công nghệ này cho phép các ống kính AF lấy nét được nhanh hơn. Một trong những ví dụ là ống kính AF-D 28-105 f3.5-4.5

Hậu chỉnh tiêu (Rear Focusing – RF)
Công nghệ này tương tự công nghệ IF ngoại trừ một điểm là nhóm thấu kính dịch chuyển là nhóm thấu kính sau cùng.

Minh họa Hậu chỉnh tiêu trên ống kính AF-D 85mm, hình 1 là khi tiêu cự ở vô cực còn hình 2 là khi tiêu cự ở gần nhất

Các ống kính phản xạ gương (Reflex, Mirror Lenses)
Những ống kính có tiêu cự lớn thường có chiều dài lớn. Điều này làm cho việc chế tạo những ống tele tiêu cự lớn đặc biệt phức tạp. Những ống kính phản xạ gương cho phép làm giảm chiều dài của ống kính tele mặc dù quãng đường mà tia sáng phải đi qua cũng không giảm nhiều so với ống kính tele khúc xạ truyền thống. Do sử dụng các gương phản xạ chính và gương phản xạ gắn vào mặt sau thấu kính đầu tiên cho nên cường độ ánh sáng vào ống kính giảm đi, điều này làm cho độ sáng lẫn bokeh của những ống kính phản xạ kém hơn nhiều so với các ống kính khúc xạ. Các loại ống kính này làm theo thiết kế của nhà thiết kế kính thiên văn người Nga Maksutov. Chất lượng các ống kính phản xạ thường kém hơn so với các ống kính khúc xạ, tuy vậy các ống kính loại này thường rất gọn và giá thành thấp hơn nhiều so với ống kính khúc xạ cùng tiêu cự. Tuy vậy ống kính phản xạ cho sắc sai thấp hơn nhiều so với ống kính khúc xạ. Điều này là do ống kính có ít thấu kính hơn, do đó tia sáng ít bị phân tích phổ hơn so với ống kính khúc xạ. Ống kính phản xạ có một số nhược điểm sau:
- Có độ tương phản thấp
- Ở tâm ảnh thường sáng hơn và phía rìa ảnh thường tối hơn
- Các ống kính này thường chậm hơn so với ống kính khúc xạ
- Thường nhẹ, do đó dễ bị rung
- Có độ mở cố định và không có vòng khẩu độ. Điều đó làm cho việc điều chỉnh độ sâu thị trường trở thành không thể
- Có bokeh rất xấu

Tổng kết
Trong phần này các bạn đã biết qua một số công nghệ tiêu biểu mà Nikon áp dụng trên các dòng ống kính của hãng. Phần sau anh VPT sẽ tiếp tục gửi đến các bạn một số thông tin về các loại ống kính chuyên dụng của Nikon.

III. Các loại ống kính Nikon chuyên dụng
Trong phần này thì chúng tôi xin gửi đến các bạn bài viết về một số ống kính chuyên dụng của Nikon cho những công việc cụ thể.
A. Giới thiệu sơ lược về một số ống kính chụp macro của Nikon.
(Bài viết được thực hiện bởi VPT)
Bài viết giới hạn trong phạm vi ống kính Nikkor đời AI, AI-s, AF và AF-D.

Ống kính chụp macro của Nikon được ký hiệu Micro-Nikkor. Dưới đây là những ống kính Micro-Nikkor được sản xuất từ năm 1977 cho đến nay được sắp xếp theo tiêu cự.

1. 55mm:
_ Micro-Nikkor 55mm F/3.5 AI
_ Micro-Nikkor 55mm F/2.8 AI
_ Micro-Nikkor 55mm F/2.8 AI-s
_ Micro-Nikkor 55mm F/2.8 AF

2. 60mm:
_ Micro-Nikkor 60mm F/2.8 AF
_ Micro-Nikkor 60mm F/2.8D AF

3. 85mm:
_ Micro-Nikkor 85mm F/2.8D PC

4. 105mm:
_ Micro-Nikkor 105mm F/4 AI
_ Micro-Nikkor 105mm F/4 AI-s
_ Micro-Nikkor 105mm F/2.8 AI-s
_ Micro-Nikkor 105mm F/2.8 AF
_ Micro-Nikkor 105mm F/2.8D AF

5. Micro-Nikkor 70-180mm F/4-5.6D AF

6. 200mm
_ Micro-Nikkor 200mm F/4 AI
_ Micro-Nikkor 200mm F/4 AI-s
_ Micro-Nikkor 200mm F/4D AF

Tất cả những ống kính này đều có thể gắn được trên toàn bộ máy Nikon SLR (bao gồm máy film và digital) tuy nhiên những ống kính AI/AI-s bị hạn chế về mặt đo sáng trên một số máy đời sau như F80, D100, D70, D50.
Những ống kính AF Micro-Nikkor đều có khả năng lấy nét đến độ phóng đại (magnification) 1:1 trên máy 35mm. Ngoài ra các ống kính Micro-Nikkor còn lại (AI/AI-s) cho độ phóng đại 1:2 hoặc 1:1 nếu sử dụng kết hợp với Nikon extension tubes thích hợp.
* Lưu ý thêm không có sự khác biệt về mặt quang học giữa ống kính Micro-Nikkor AI và AI-s, cũng như AF non-D và AF-D ( xem chi tiết phần phân loại ống kính ở trên)
Hiện nay 3 ống kính Micro-Nikkor thông dụng nhất và vẫn được tiếp tục sản xuất là AF 60mm F/2.8D, 105mm F/2.8D và 200mm F/4D.
Ống kính Micro-Nikkor 105mm F/2.8D AF

Năm 1990, Nikkon lần đầu tiên giới thiệu ống kính Micro-Nikkor 105mm F/2.8 AF với khả năng lấy nét đến độ phóng đại 1:1. Ba năm sau, Nikon nâng cấp ống kính này thành Micro-Nikkor 105mm F/2.8D AF cho đến hiện nay vẫn còn được sản xuất và sử dụng rộng rãi.

Cả hai ống kính này không có sự khác biệt về thiết kế và quang học, điểm khác nhau là D lens (D: Distance) cho phép máy xác định khoảng cách tới đối tượng chụp, giúp đèn flash đánh chính xác hơn.

Ống kính được thiết kế với 9 thấu kính chia làm 8 nhóm, lấy nét từ vô cực đến 0.314m (1:1), sử dụng công nghệ hiệu chỉnh khoảng cách gần CRC “Close Range Correction”.

Được thiết kế khá nhẹ, nặng 560g, Micro-Nikkor 105mm F/2.8D AF rất thuận tiện khi chụp macro mà không cần dùng chân máy.

Trên thân ống kính có nút giới hạn lấy nét giúp cho việc lấy nét nhanh hơn. Có thể giới hạn lấy nét từ vô cực đến 0.5m khi chụp thông thường hoặc từ 0.5m đến 0.314m khi chụp macro.

Một điểm cần lưu ý là khẩu độ sẽ thay đổi khi lấy nét trong khoảng cách từ 1.4m đến 0.314m. Khi lấy nét tại 0.314m (macro 1:1), khẩu độ lớn nhất sẽ là F/5

Tuy Micro-Nikkor 105mm F/2.8D AF được chế tạo cho thể loại ảnh macro nhưng vẩn có thể dùng cho các mục đích khác như chân dung.

Đây là một ống kính rất thông dụng với tiêu cự khá lý tưởng ở 105mm, dùng được cho nhiều mục đích, đặc biệt dể dàng sử dụng cho thể loại ảnh macro.

“VIETCARAVAN” Thương hiệu quảng bá, du lịch bằng xe hơi tự lái tại Việt Nam


Diễn đàn Vietcaravan.com đến nay đã có hơn 14.420 thành viên yêu thích du lịch và xe hơi đăng ký tham gia diễn đàn, 4500 thành viên luôn trực tuyến và vào lúc cao điểm có thể lên đến 8000 thành viên truy cập, thành viên diễn đàn đa phần là các doanh nhân, giáo sư, bác sĩ, kỹ sư, nghệ sĩ….tham gia. Vietcaravan đã tổ chức các chuyến đi trên mọi nẻo đường của đất nước và cả bên ngoài Việt Nam ( Lào, Cambodia, ThaiLan) và chuyến đi gần đây nhất mà tôi có dịp được tham gia với Vietcaravan là hành trình về thăm Bạc Liêu với chủ đề “ Vietcaravan – Hành trình văn hóa du lịch Bạc Liêu”.
Bạc Liêu là một tỉnh thuộc duyên hải vùng đồng bằng sông Cửu Long. Phía bắc giáp tỉnh Hậu Giang, phía đông bắc giáp tỉnh Sóc Trăng, tây bắc giáp Kiên Giang, tây và tây nam giáp Cà Mau, đông và đông nam giáp biển với 56 km bờ biển, cách Thành phố Hồ Chí Minh 280 km. Ngày 27 tháng 8 năm 2010, Chính phủ ra nghị định thành lập thành phố Bạc Liêu thuộc tỉnh Bạc Liêu. Bạc Liêu có 3 dân tộc chính: Kinh, Kh’mer và Hoa, do đó văn hoá ẩm thực của địa phương này cũng khá đa dạng, nhiều món ăn được biết tới như: bánh xèo, bún nước lèo..


1. Đoàn xe chạy qua cầu Cần Thơ. Cầu Cần Thơ là cây cầu bắc qua sông Hậu, nối thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long. Tại thời điểm hoàn thành (2010), đây là cây cầu dây văng có nhịp chính dài nhất tại khu vực Đông Nam Á.Photograph: Thaiphong/Vietnam


2. Trạm thu phí sau khi qua cầu Cần Thơ, 15.000 đồng/lượt cho xe dưới 12 chỗ ngồi.Photograph: Thaiphong/Vietnam


3. Một khu du lịch nhà hàng Hoa Sứ tại Cần Thơ, đoàn nghỉ ngơi và ăn trưa tại đây.Photograph: Thaiphong/Vietnam





4. Một số thành viên của VIETCARAVAN ra mắt giới thiệu với các thành viên mới. Photograph: Thaiphong/Vietnam



5. Lớp kế thừa của VIETCARAVAN mai sau.Photograph: Thaiphong/Vietnam


6. Thành viên của VIETCARAVAN đang điều hành hướng dẫn thứ tự các xe xuất phát.Photograph: Thaiphong/Vietnam


7. Đây là thành viên của nhóm VIETCARAVAN Vũng Tàu…đang tác nghiệp từ trên xe.Photograph: Thaiphong/Vietnam


8. Đoàn dừng chân nghỉ ngơi trên Quản Lộ Phụng Hiệp về Bạc Liệu…2 bên đường người dân trồng chuối rất là nhiều. Photograph: Thaiphong/Vietnam


9. Di chuyển về Bạc Liêu theo cung đường mới…có xe CA của TP Bạc Liêu dẫn đường cho đoàn. Photograph: Thaiphong/Vietnam


10. Hơn 60 chiếc xe hơi các loại của Đoàn VIETCARAVAN tham gia và khoảng 20 chiếc của TP Bạc Liêu nhập đoàn hướng về nhà thờ Tắc Sậy theo con đường làng băng qua quốc lộ. Photograph: Thaiphong/Vietnam


11.Một nơi nằm trong địa bàn của xã Tân Phong, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu là nhà thờ Tắc Sậy nơi chôn cất thi hài Cha Trương Bửu Diệp “Phanxicô Trương Bửu Diệp”, (1897-1946) là một linh mục Công giáo người Việt. Ông được biết đến nhiều bởi đã chịu chết thay cho giáo dân cùng bị bắt với mình. Photograph: Thaiphong/Vietnam


12. Nơi đặt thi cốt của Cha Trương Bửu Diệp bên trong nhà thờ. Photograph: Thaiphong/Vietnam


13. Người hành hương về đây..hướng tâm linh của theo nhiều cách khác nhau đề cầu mong cuộc sống được an bình. Photograph: Thaiphong/Vietnam


14. Ngôi mộ của Cha Trương Bửu Diệp. Photograph: Thaiphong/Vietnam


15. Bức tượng của Cha Trương Bửu Diệp bên trong nhà mồ nơi chôn cất Cha đầu tiên. Photograph: Thaiphong/Vietnam



16. Những bức tranh kiếng màu đặt trưng bên trong của các nhà thờ công giáo. Photograph: Thaiphong/Vietnam


17. Bên trong thánh đường của nhà thờ Tắc Sậy. Photograph: Thaiphong/Vietnam


18. Khu di tích Đồng Nọc Nạn là tên một cánh đồng thuộc làng Phong Thạnh, huyện Giá Rai. Cánh đồng này nằm trên đường Bạc Liêu, Cà Mau, với con rạch Nọc Nạn. Photograph: Thaiphong/Vietnam


19. Nơi đây trước kia là nơi diễn ra vụ tranh chấp đất đai giữa điền chủ và chính quyền địa phương dẫn đến vụ đụng độ làm 17 người bị thương và thiệt mạng vào năm 1928. Sự kiện này dẫn đến vụ án Nọc Nạn, trong đó tòa xử gia đình người nông dân thắng kiện. Vụ cánh đồng Nọc Nạn trở thành một điển tích về lịch sử khẩn hoang Nam Bộ.


20. Phần mộ của ông bà Tám Luông (Hương chánh Luông). Photograph: Thaiphong/Vietnam


21. Phần mộ của Nguyễn Thị Liễu (em út Toại) – Lê Văn Miều (chồng Liễu). Photograph: Thaiphong/Vietnam


22. Phần mộ của Nguyễn Văn Tại và Nguyễn Văn Nhẫn. Photograph: Thaiphong/Vietnam


23. Phần mộ Nguyễn Văn Chức và bà Phạm Thị Nghĩa ( lúc chết bà Nghĩa đang mang thai ). Photograph: Thaiphong/Vietnam


24. Phần mộ của cô Út Trong – Nguyễn Thị Trong và Nguyễn Văn Nhịn ” Tối 14 tháng 2 năm 1928, anh em nhà Biện Tại họp, làm lễ lạy ông bà tổ tiên và bà Luông, gọi là báo hiếu lần chót. Họ trích huyết thề ăn thua, không sợ chết, rút thăm để ông bà chỉ định ai là người hy sinh đầu tiên. Lần đầu, cô em gái tên Trong rút được thăm. Anh em yêu cầu bốc lại. Lần thứ hai, Trong vẫn rút được thăm. Cô nói: “Ông bà đã dạy, em xin liều chết!”. Photograph: Thaiphong/Vietnam


25. Sân phơi lúa trước kia…cũng là nơi xảy ra thảm kịch trên…bây giờ được xây dựng tượng đài khu di tích Nọc Nạn. Photograph: Thaiphong/Vietnam


26. Quán âm Phật đài (thường gọi Phật bà Nam Hải). Theo tín ngưỡng của những người đi biển, Phật bà Nam Hải đã chở che cho họ rất nhiều trong lúc họ hoạt động, làm ăn trên biển. Nơi đây đã trở thành một điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Bạc Liêu, thu hút hàng ngàn du khách đến viếng, thưởng ngoạn mỗi năm, nhất là vào dịp Vía Bà (tháng 3 âm lịch). Photograph: Thaiphong/Vietnam



27. Quán âm Phật đài… phía bên tay phải từ ngoài đi vào. Photograph: Thaiphong/Vietnam



28. Quán âm Phật đài… phía bên tay trái từ ngoài đi vào. Photograph: Thaiphong/Vietnam


29. Thành viên hành trình thắp hương…cầu mong mưa thuận gió hòa…Photograph: Thaiphong/Vietnam


30. Các thành viên VIETCARAVAN chụp hình lưu niệm tại Quán âm Phật đài. Photograph: Thaiphong/Vietnam







31. Bà con 2 bên đường rất vui mừng…chắc có lẻ là lần đầu tiên thấy xe hơi nhiều như vậy. Photograph: Thaiphong/Vietnam


32. Chùa Xiêm Cán thuộc xã Hiệp Thành. Được xây dựng vào đầu thế kỷ 20, chùa Xiêm Cán mang kiến trúc Angkor của người Campuchia, thể hiện ở những họa tiết độc đáo nơi mái vòm, tường, các hàng cột và cầu thang. Đối với chùa Khmer, chánh điện thường quay về hướng Đông vì họ cho rằng con đường tu hành của Phật đi từ Tây sang Đông. Photograph: Thaiphong/Vietnam


33. Hướng dẫn viên đang thuyết trình về sự hình thành và khái quát chung về lịch sử chùa Xiêm Cán. Photograph: Thaiphong/Vietnam


34. Bên trong chánh điện của chùa Xiêm Cán. Photograph: Thaiphong/Vietnam


35. Thắp hương cầu nguyện. Photograph: Thaiphong/Vietnam








36. Phong cảnh bên trong khuôn viên chùa Xiên Cán. Photograph: Thaiphong/Vietnam


37. Lò hỏa táng bên trong chùa Xiêm Cán. Photograph: Thaiphong/Vietnam


38. Một vị sư tại chùa Xiêm Cán. Photograph: Thaiphong/Vietnam


39. Đền thờ Bác Hồ ở xã Châu Thới (huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu)Di tích lịch sử quốc gia. Đây là địa chỉ đỏ, nơi hành hương về nguồn của nhân dân địa phương và du khách gần xa. Photograph: Thaiphong/Vietnam


40. Ca sĩ Phạm Thanh Thảo thành viên của VIETCARAVAN nick “congchuatho” và các thành viên tặng quà và học bổng cho các em học sinh tiêu biểu của huyện Vĩnh Lợi xã Châu Thới tại Đền thờ Bác Hồ. Photograph: Thaiphong/Vietnam


41. Các thành viên nhí của VIETCARAVAN đồng hành cùng các em học sinh. Photograph: Thaiphong/Vietnam


42. Trồng cây nhớ Bác tại khuôn viên đền thờ của VIETCARAVAN. Photograph: Thaiphong/Vietnam


43. Lúa gạo Tài Nguyên tại xã Vĩnh Lợi. Photograph: Thaiphong/Vietnam


44. ” Lúa Tài Nguyên là giống lúa mùa truyền thống có tiếng được canh tác khá ổn định với một diện tích lớn. (Huyện Vĩnh Lợi có diện tích trồng lúa Tài Nguyên năm 2006 là 9.129 ha, năm 2007 là 8.831 ha, năm 2008 là 8.600 ha, năm 2009 là 9.313 ha và năm2010 là 9.303 ha). Gạo Tài Nguyên được sản xuất trong điều kiện có nhiều đặc điểm khác biệt so với những sản phẩm cùng loại khác như điều kiện khí hậu, đất đai. Nhờ đó đã tạo ra hai loại gạo khác nhau, gạo Tài Nguyên “hạt đục” và gạo Tài Nguyên “hạt trong”. Trong đó, gạo Tài Nguyên “hạt đục” được người tiêu dùng ưa chuộng nhất. ” Photograph: Thaiphong/Vietnam



45. Khu tưởng niệm cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu, tác giả bài Dạ Cổ Hoài Lang bất hủ. Photograph: Thaiphong/Vietnam


46. Phần mộ của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Photograph: Thaiphong/Vietnam


47. Các thành viên VIETCARAVAN đoạt giải nhiếp ảnh cuộc thi trong hành trình…tất cả tiền đoạt giải điều được tham gia vào quỹ hỗ trợ người nghèo. Photograph: Thaiphong/Vietnam


48. Đại diện BTC VIETCARAVAN lên trao quỹ hỗ trợ người nghèo. Photograph: Thaiphong/Vietnam